Phía sau trang văn

Không ít độc giả hình dung nghề văn là một công việc nhẹ nhàng: Người viết ngồi trong phòng điều hòa, đợi cảm hứng tìm đến rồi đặt bút mà thành tác phẩm. Thực ra, phía sau trang văn là những đêm dài mất ngủ, là những tháng năm tích lũy kinh nghiệm sống, không ngừng học hỏi, lao động miệt mài, thể hiện ý thức trách nhiệm và bản lĩnh của mỗi người cầm bút.

Bản thảo của nhà văn Nguyễn Thi tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Ảnh: HOÀNG HOA
Bản thảo của nhà văn Nguyễn Thi tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Ảnh: HOÀNG HOA

“Cuộc sống là người thầy lớn”

Hơn 15 năm công tác tại Báo Văn nghệ, tôi có dịp gặp gỡ, trò chuyện với nhiều nhà văn đi trước, nhờ đó đã thu nhận được những bài học sâu sắc về nghề. Một trong những người để lại trong tôi ấn tượng sâu đậm là nhà văn Ma Văn Kháng. Ông hiền hậu, mộc mạc, dễ gần, khiến tôi có khi quên mất mình đang ngồi trước một cây đại thụ của nền văn học. Trong những chuyến đi thực tế, ông thường mang theo cuốn sổ nhỏ, chỉ nhỉnh hơn bàn tay. Một câu nói mang đặc trưng vùng miền, một nếp sinh hoạt thường ngày hay một cử chỉ mà người khác có thể lướt qua đều được ông lặng lẽ ghi lại. Những điều nhỏ bé ấy, qua sự quan sát tinh tường của ông đã trở thành chất liệu quý cho tác phẩm.

Tôi tâm đắc câu nói của ông: Cuộc sống là người thầy lớn. Sống rồi mới viết. Không có cuộc sống thì không có văn chương. Tác phẩm của nhà văn Ma Văn Kháng là minh chứng rõ ràng cho quan niệm ấy. Hơn 20 năm tuổi trẻ sống và làm việc ở Lào Cai đã giúp ông hiểu sâu sắc miền biên viễn từ sự gắn bó mật thiết với đất, với người. Những quan sát về phong tục, tâm tính, ngôn ngữ, những đổi thay âm thầm trong đời sống của người dân đã được tái hiện sinh động trong nhiều trang viết của ông, tiêu biểu là tiểu thuyết “Đồng bạc trắng hoa xòe”. Nhân vật trong văn ông có sức nặng từ chính sự lam lũ đời thường, vừa mang dấu ấn riêng của một vùng đất, vừa gợi lên những câu hỏi rộng lớn về nhân phẩm trước những biến động của xã hội.

Nhắc đến thực tiễn đời sống, tôi không thể quên được sự sôi nổi, nồng nhiệt của nhà văn Trung Trung Đỉnh mỗi khi ông kể về Tây Nguyên. Đó là vùng đất ông từng chiến đấu, từng cùng ăn, cùng ở với đồng bào Ba Na trong những năm chiến tranh ác liệt. Nguồn tư liệu quý giá ấy đã được ông khai thác cho nhiều tác phẩm sau này như “Lính trận”, “Lạc rừng”, “Ngược chiều cái chết”… Khi chuyển công tác từ Tạp chí Văn nghệ Quân đội sang Báo Văn nghệ, đảm nhiệm cương vị Phó Tổng Biên tập, công việc quản lý khiến ông bận rộn hơn, dẫu vậy, ông luôn thu xếp thời gian để trở lại Tây Nguyên. Ông về với chiến trường xưa không chỉ để sống lại ký ức cũ, mà để tiếp tục quan sát, tìm hiểu những đổi thay trên vùng đất mình từng gắn bó như máu thịt.

Đi thực tế là cách người viết “nhúng” mình vào sự phong phú và phức tạp của cuộc sống. Nhà văn phải đi, phải nhìn, phải lắng nghe, không ngừng quan sát, nghiền ngẫm, học hỏi. Nhưng vốn sống không tự nhiên biến thành văn chương. Nếu chỉ chép lại những gì mắt thấy tai nghe, tác phẩm sẽ chỉ như một bản ghi chép thông thường. Chất liệu đời sống phải đi qua trải nghiệm, sự chiêm nghiệm và thế giới tinh thần riêng của người viết. Cùng đứng trước một sự việc, mỗi nhà văn lại nhận ra một tầng ý nghĩa khác nhau. Khả năng nhìn sâu vào bản chất con người, phát hiện phần khuất sau những biểu hiện bề ngoài và tìm được hình thức nghệ thuật phù hợp mới tạo nên dấu ấn của mỗi người viết.

172.jpg
Một số vật dụng của nhà thơ Tế Hanh hiện lưu giữ tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Ảnh: TÚ NHI

Sau hàng chục năm cầm bút, Ma Văn Kháng vẫn thú nhận rằng, mỗi lần ngồi vào bàn viết, ông đều bồi hồi, lo sợ như người mới tập đi; có khi viết xong, ông rã rời như sắp kiệt sức. Nhà văn Nguyễn Khải, sau hơn nửa thế kỷ lao động văn chương, từng chia sẻ rằng, ông đã ba lần phải tự thay đổi quan niệm về tiểu thuyết, về đề tài cần quan tâm và về cách viết để không rơi vào lối mòn của chính mình.

Những lời bộc bạch ấy cho thấy sự nhọc nhằn của văn chương đến từ chính sự khắt khe của người viết đối với bản thân. Mỗi tác phẩm mới lại đặt nhà văn trước một thử thách mới. Những thành công đã từng gặt hái đôi khi trở thành áp lực, bởi người viết phải vượt qua cái bóng của chính mình.

Trang viết, đời người

Ngược dòng thời gian, tìm hiểu cuộc đời những nhà văn sống và viết trong chiến tranh, tôi càng thấm thía cái giá của mỗi trang văn. Nhà văn Nguyễn Thi vào chiến trường Nam Bộ năm 1962, vừa cầm súng, vừa ghi chép về cuộc sống lao động, chiến đấu của người dân nơi đây. Ông hy sinh ở tuổi 40, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, để lại 24 quyển sổ tay cùng nhiều bản thảo còn dang dở.

Nhà văn Chu Cẩm Phong để lại “Nhật ký chiến tranh”, với phần nhật ký dài hơn 600 trang, được viết từ tháng 7/1967 đến ngày 27/4/1971, ít ngày trước khi ông hy sinh tại Quảng Nam. Cuốn sổ được một người lính phía bên kia chiến tuyến giữ gìn rồi trao lại cho gia đình ông vào năm 2000. Những trang viết ra đời giữa mưa bom bão đạn, những cuộc hành quân gấp gáp, trong thiếu thốn và cận kề cái chết. Ở đó, người đọc thấy hiện thực khốc liệt của chiến trường, đồng thời nhận ra nhịp đập của một người viết trẻ tràn đầy nhiệt huyết và những phút tự vấn về việc phải sống sao cho xứng đáng. Những câu chuyện ấy khiến thế hệ hậu sinh như chúng tôi hiểu hai chữ “nghề văn” ở một tầng nghĩa sâu hơn. Đó không thuần túy là công việc chữ nghĩa, mà còn là một cách biểu hiện bản lĩnh sống và trách nhiệm công dân trước đất nước, dân tộc.

Trong thời bình, sự nhọc nhằn của nghề viết mang một sắc thái khác, âm thầm hơn, nhưng không vì thế mà nhẹ nhàng hơn. Để có thực tế sinh động cho trang văn, người viết phải lặn lội lên rừng, xuống biển, đến những vùng miền xa xôi, thâm nhập đời sống bộn bề và có lúc phải đối mặt với hiểm nguy. Nhà văn Nguyễn Tuân từng ví trang giấy trắng là một “pháp trường trắng” - diễn tả phần nào áp lực và sự căng thẳng của người viết khi đối diện với bản thảo. Trước khi được công chúng đón nhận hoặc lãng quên, mỗi tác phẩm đều trải qua một cuộc đối thoại âm thầm giữa nhà văn với lương tâm mình. Khi biết sợ sự dễ dãi của chính mình, biết lo những câu chữ vô tình làm tổn hại người khác, nhà văn mới có thể đến gần người đọc bằng sự chân thành.

Trong đời sống hôm nay, một văn bản có thể được viết và lan truyền rất nhanh. Nhưng văn chương cần độ lùi để suy nghĩ, cần sự im lặng để phân biệt những ồn ào bề nổi với giá trị cốt lõi. Nghề văn đáng trân trọng không phải vì nhà văn đứng cao hơn người khác. Trái lại, người viết chỉ có thể làm tốt công việc của mình khi biết cúi xuống gần con người, nhìn thấy phẩm giá trong những phận đời nhỏ bé, nhận ra ánh sáng giữa nghịch cảnh và cả những tổn thương nằm khuất lấp. Nhà văn không ban phát lòng thương mà học cách thấu hiểu, sẻ chia. Văn chương không thể thay cơm áo, không thể chữa lành tức khắc một vết thương nhưng nó có thể giúp con người không trở nên vô cảm trước đói nghèo, trước cái xấu và cái ác. Nó tiếp thêm sự can đảm để chúng ta dám bảo vệ điều tử tế, lương thiện.

173.jpg
Một số vật dụng của nhà thơ Nông Quốc Chấn hiện lưu giữ tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Ảnh: TÚ NHI

Nhiều năm cầm bút, điều khiến tôi kính trọng nhất ở những nhà văn đi trước, bên cạnh tác phẩm còn là cách họ đã sống để có thể viết. Tài năng có thể làm nên một cuốn sách hấp dẫn, nhưng sự trung thực và lòng nhân ái mới giúp trang viết ở lại lâu dài. Chính tác phẩm, nhân cách nghề nghiệp và thái độ đối với con người xác lập giá trị của người cầm bút. Văn chương cần tự do sáng tạo, nhưng tự do ấy phải đi cùng trách nhiệm. Người viết càng có tài càng cần hiểu sức nặng của câu chữ; càng được công chúng tin cậy càng phải cẩn trọng với điều mình bày tỏ.

Có lẽ điều mà người viết chân chính mong muốn không phải là sự tung hô, tán dương. Họ sẽ hạnh phúc hơn nhiều khi biết rằng tác phẩm của mình đã khiến ai đó dừng lại lâu hơn trước một số phận kém may mắn, hay thắp lên những niềm hy vọng cho ai đó trước nghịch cảnh. Và mỗi khi cầm một cuốn sách trên tay, mong người đọc dành thêm một chút thời gian để nghĩ về những điều diễn ra sau trang viết ấy…

Khi một nhà văn viết hay về quê hương, họ giúp người đọc nhận ra mỗi miền đất, mỗi số phận bình dị đều góp phần tạo nên chiều sâu tinh thần của đất nước. Văn chương còn góp phần gìn giữ ký ức cộng đồng, đưa câu chuyện của một dân tộc đến với thế giới. Một đất nước nhờ đó được nhận diện không chỉ bằng phong cảnh, sản vật hay những con số tăng trưởng, mà bằng chiều sâu tâm hồn con người, bằng cách con người yêu thương, chịu đựng, hy sinh và đứng dậy sau mất mát.