Cầu nối lan tỏa sức mạnh mềm
Khác với nhiều loại hình nghệ thuật phụ thuộc vào ngôn ngữ, múa truyền tải ý niệm bằng hình thể, tiết tấu, âm nhạc và không gian sân khấu. Người xem có thể không hiểu tiếng Việt, nhưng vẫn cảm nhận được nhịp sống của núi rừng Tây Bắc qua tiếng khèn H’Mông, sự mềm mại của văn hóa Chăm qua những chuyển động uyển chuyển của đôi bàn tay hay vẻ hào sảng của đại ngàn Tây Nguyên trong nhịp cồng chiêng vang vọng. Chính khả năng truyền cảm vượt giới hạn ngôn ngữ ấy đã khiến múa trở thành một "ngôn ngữ toàn cầu" của bản sắc văn hóa.
Ở Việt Nam, múa dân tộc từ lâu được nhìn nhận như một bộ phận của di sản văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở hoạt động bảo tồn hay phục dựng nguyên trạng, di sản rất dễ trở thành một "hiện vật sống", được lưu giữ nhưng khó hòa vào dòng chảy sáng tạo của đời sống đương đại. Giá trị bền vững của di sản không nằm ở việc bất biến, mà ở khả năng thích ứng, tái sinh và tiếp tục được sáng tạo trong những điều kiện lịch sử mới. Múa dân tộc hôm nay không còn chỉ là đối tượng của bảo tồn mà đã trở thành nguồn chất liệu sáng tạo của nghệ thuật đương đại. Các biên đạo trẻ không còn tiếp cận chất liệu dân gian như những khuôn mẫu bất biến mà xem đó là "vốn văn hóa" để sáng tạo nên những hình thức biểu đạt mới. Đó là quá trình chuyển hóa từ ký ức thành nghệ thuật, từ truyền thống thành ngôn ngữ của thời đại.
Trong khoảng hơn một thập niên trở lại đây, nhiều biên đạo đã lựa chọn trở về với những lớp trầm tích văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam để tìm kiếm cảm hứng sáng tác. Họ không tái hiện nguyên xi lễ hội, nghi thức hay đời sống lao động lên sân khấu mà chắt lọc tinh thần văn hóa, kết hợp với mỹ thuật sân khấu, công nghệ ánh sáng, âm nhạc đương đại và tư duy biên đạo mới để hình thành những tác phẩm có khả năng đối thoại với công chúng trong nước cũng như quốc tế.
Khi bản sắc trở thành “hộ chiếu”
Nếu di sản văn hóa là phần ký ức được tích lũy qua nhiều thế hệ thì sáng tạo nghệ thuật chính là quá trình làm cho ký ức ấy tiếp tục sống trong hiện tại. Giá trị của nghệ thuật múa dân tộc Việt Nam hôm nay không còn nằm ở khả năng phục dựng nguyên bản những điệu múa cổ truyền mà ở năng lực chuyển hóa tinh thần văn hóa thành những hình thức biểu đạt mới, phù hợp với ngôn ngữ thẩm mỹ của khán giả đương đại nhưng vẫn giữ được hồn cốt Việt Nam.
Nhìn vào diện mạo múa Việt những năm gần đây có thể nhận thấy một xu hướng khá rõ: Các biên đạo ngày càng rời xa lối minh họa hiện thực để tiếp cận nghệ thuật bằng tư duy biểu tượng. Thay vì "kể" về văn hóa dân tộc, họ để chính ngôn ngữ hình thể làm nhiệm vụ gợi mở. Động tác không còn chỉ diễn tả hành động lao động hay sinh hoạt mà trở thành phương tiện chuyển tải ký ức, cảm xúc và triết lý văn hóa.
Một số tác phẩm thời gian gần đây như tác phẩm múa “Dệt lanh” và thơ múa “Nàng Mây” có thể xem là những trường hợp tiêu biểu cho tư duy sáng tạo mới của múa Việt Nam. Tác phẩm múa “Dệt lanh” của NSND Kiều Lê là một minh chứng rõ nét cho khả năng chuyển hóa di sản thành ngôn ngữ múa đương đại. Điều đáng chú ý là biên đạo không lựa chọn cách kể câu chuyện về nghề dệt lanh của người H’Mông theo trình tự sự kiện hay lối minh họa tập quán sản xuất. Thay vào đó, toàn bộ tác phẩm được kiến tạo như một dòng chảy biểu tượng, nơi nghề dệt trở thành hình ảnh của sự sáng tạo, của lao động, của ký ức cộng đồng và của quá trình hình thành bản sắc. Thơ múa “Nàng Mây” của nhóm Biên đạo Hải Trường, Mai Len, Vũ Huệ, Thúy Hiền lại mang đến một nguồn năng lượng trẻ trung và giàu tính thể nghiệm. Điểm đáng chú ý của tác phẩm là cách biến vật liệu mây tre thành một thành tố của ngôn ngữ múa. Những thanh mây không chỉ là đạo cụ mà trở thành một nhân tố đồng hành cùng diễn viên, mở rộng không gian tạo hình và tạo nên những lớp chuyển động đa chiều.
Trong bối cảnh giao thoa quốc tế ngày càng sâu rộng, nghệ thuật múa Việt Nam cũng chịu tác động từ nhiều xu hướng quốc tế, đặc biệt là ngôn ngữ múa đương đại và sân khấu thị giác của khu vực châu Á. Tuy nhiên, nếu quá trình tiếp thu chỉ dừng ở kỹ thuật biểu diễn và những sao chép dập khuôn mà thiếu nền tảng văn hóa dân tộc, nghệ thuật rất dễ đánh mất khả năng nhận diện của chính mình. Vì vậy, vấn đề không nằm ở việc tiếp nhận hay từ chối ảnh hưởng bên ngoài mà ở khả năng “Việt hóa” những yếu tố tiếp thu ấy. Hội nhập chỉ thật sự có ý nghĩa khi nghệ thuật biết tiếp nhận tinh hoa của thế giới để làm giàu cho tiếng nói của chính mình chứ không làm mờ đi bản sắc văn hóa vốn có bởi chính bản sắc ấy là tấm “hộ chiếu” , là sức mạnh mềm của văn hóa Việt trong dòng chảy hội nhập quốc tế.