Không lý do gì lại lùi bước

LTS- "Không một lý do gì ta lại lùi bước tụt lại phía sau" - đó là lời tâm niệm của người chiến sĩ đặc công trẻ Nguyễn Tiến Bình viết trong nhật ký khi vượt Trường Sơn vào chiến trường năm 1970. Hơn 40 năm sau, cuốn nhật ký được xuất bản và vừa qua, Báo Nhân Dân cùng NXB Chính trị Quốc gia đã tổ chức công bố. Đoạn trích dưới đây là những gì tác giả ghi lại trong chặng cuối của đường hành quân và những ngày đầu trực tiếp chiến đấu với quân đội viễn chinh Mỹ. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Không lý do gì lại lùi bước

18.4.1970

05h00 lên đường, toàn dốc là dốc. Bom Mỹ dày đặc hố nọ chồng hố kia. Đi liền hai giờ mà chưa qua hết bãi bom B52. Con bệnh lại kéo đến hành hạ mình rồi, dai như đỉa đói, chẳng chịu chiếu cố buông tha cho mình gì cả.

09h30 tới Trạm H4, người rã rời không muốn làm gì. Anh em ai cũng vậy thôi. Chiều nay mình cùng Xuân đi lấy gạo, leo một cái dốc năm tầng, gặp một đơn vị vận tải quân sự, những đoàn xe thồ, xe GMC, xe JEP của Mỹ.

Hôm nay mỗi đ/c được 150 g đường Hoa Mai, 150 g mắm tôm, ít cá khô.

Bọn phản động Miên trắng gây một số khó khăn về hậu cần cho chúng mình.

Tiểu đoàn 18 đặc công và một số đơn vị bộ binh đã tập kết hết ở đây.

Chúng mình tiếp tục đi sâu hơn nữa.

Nghe nói về ven sông Sài Gòn.

Tối nay phân đội nấu một nồi cháo đường để tiết kiệm gạo và cũng để bồi dưỡng cho anh em luôn, các phân đội khác cũng vậy.

Trăng lại đến tìm chúng mình trên đường hành quân. Trăng đẹp quá.

Mới hôm nào mình còn đi dưới ánh trăng trên đường số 1 ở quê hương và thầm nói với trăng: Thôi tạm biệt ta chào trăng, trăng nhé/Đừng tìm ta trên đường cái phẳng lì/Hẹn gặp nhau ngang mái đèo vất vả/Dốc đá gập ghềnh trăng dõi lối ta đi. Thế mà nay trăng đến thật.

19.4.1970

Tranh thủ viết thư về cho gia đình và cho bà con xóm Nam. Bao hình ảnh thân yêu lại hiện lên trước mắt.

Không một lý do gì ta lại lùi bước tụt lại phía sau.

Không một lý do gì ta lại chịu xa rời đội ngũ.

Hôm nay có ba tên biệt kích mang K54 và AK mặc quần áo bà ba màu đen đóng giả quân giải phóng đi do thám tình hình. Chúng bắn bị thương một đ/c giao liên đang phát rẫy rồi bỏ chạy vì đ/c này nghi ngờ thái độ của chúng.

Các đơn vị bạn đang truy lùng bọn đó. Đ/c Chính phân đội 1 bị ốm nặng phải gửi vào trạm. Lại phải xa một đ/c thân yêu.

20.4.1970

05h30 sáng lên đường. Đ/c Hiển - Phân đội trưởng, bị cảm, sáng không ăn được cơm, bị nôn và bị choáng không đi được phải nằm lại trên đường. Có quyết định gửi đ/c vào Trạm. Mình và Xuân ở lại đi sau để đưa đ/c Hiển vào bệnh xá.

Đường đi thật nhiều ngả, lắt léo.

11h30 mới tìm thấy, gửi đ/c Hiển xong hai đứa quay ra đường giao liên tìm đến chỗ đ/c Đông - Chính trị viên đại đội, đang chờ, đã 12h30.

Bốn anh em đi liền một mạch đến Trạm H5 lúc 18h00...

21.4.1970

03h30 sáng lên đường, đêm tối như tấm khăn đen bịt mắt. Đ/cMai Xuân Sinh (Phân đội 2) quên biđông nước ở bãi nghỉ tối qua phải quay lại lấy, đuổi theo đơn vị không kịp. Đ/c ấy kêu vang lên như con hoẵng lạc đàn kêu giữa rừng khuya vắng, vừa thương vừa giận. Hành quân mà như thế thì có lúc gặp thương vong đáng tiếc. 10h00 tới bãi, ở tận trên đỉnh một con dốc đá.

Muốn lấy nước phải tụt xuống tận dưới khe có một dòng nước nhỏ chảy tí tách, hứng từng lon nước chắt chiu. Đ/cNguyễn Xuân Vui - Phân đội phó Phân đội 1, sang phụ trách phân đội mình vì hai cán bộ phân đội mình đều nằm lại trạm xá cả.

Anh em dễ thông cảm với nhau ngay thôi. Chiều nay nấu 6 nồi cơm liền, để ăn một bữa chiều và 5 nắm cơm ăn cho hai ngày liền sau đó, vì các trạm tới ác liệt và căng thẳng hơn.

Các đ/c giao liên định bắt chúng mình 17h00 mới được nổi lửa nấu cơm. Đơn vị đề nghị mãi vì nấu không kịp nên 16h00 các đ/c ấy cho nấu, nấu xong 6 nồi cơm thì trời vừa tối.

Đoạn đường hành quân này muỗi nhiều vô kể, ban ngày mà muỗi bay như trấu, đốt xuyên quần áo, người mần đỏ nhiều nốt li ti. Thảo nào các đ/c vào chiến trường ai cũng bị sốt rét. Mình càng phải cẩn thận giữ gìn sức khỏe như giữ gìn trái tim và lý tưởng vậy. Sức khỏe lúc này hết sức quan trọng. Yếu mệt một chút là cực mình lại khổ cả đồng đội, vất vả cả anh em nữa, có khi phải tụt lại đằng sau.

22.4.1970

05h00 sáng lên đường. 5 nắm cơm 1 bi-đông nước. Bom B52 xới nhào mặt đất, biến dạng tất cả. Có quả rốc-két cắm phập vào cây rừng mà chưa nổ. Các đ/c giao liên tháo lấy kíp và thuốc, còn có mỗi vỏ không vẫn để đấy như để thách thức bọn Mỹ. Còn bom đạn gì nữa hãy thử với rừng và con người ở đây.

10h00 tới Trạm B2. Bãi khách đã bị bom B52 đánh, chúng mình tạt vào một rừng nứa nghỉ. Muỗi bay kêu ran khắp nơi.

Mình cùng Nguyên, Hấn ra bãi bom B52 kiếm rau. Chúng mình có kinh nghiệm rồi, cứ chỗ nào bom Mỹ thả xuống hủy diệt thì chỗ đó có nhiều rau xanh do "ông trời" trồng cho chúng mình. Hái một lúc được đủ thứ rau: lưỡi nai, tầu bay, lạc tiên.

Đi tới giữa bãi bom thì gặp một bãi sắn, không rõ của ai trồng nên không dám nhổ. Hái một ít lộc sắn về xào.

Máy bay Mỹ quần đảo liên tục, đun nấu phải hết sức chú ý. Con bệnh lại hành hạ mình, đeo đuổi mãi chưa chịu buông tha, nhưng nó không quật ngã được mình đâu.

23.4.1970

05h00 sáng lên đường. Hơn sáu tiếng đồng hồ thì tới Trạm B1. Đường đi vất vả hơn mấy hôm trước, bom đạn dày đặc, đất đá xới nhào, cây cối đổ ngổn ngang, xơ xác. Hai nắm cơm từ hôm kia (21.4.1972) đã thiu vắt ra sữa. Chúng mình phải bóp ra nấu lại cho nóng. Không được đun nấu nhiều vì bọn Mỹ hoạt động ráo riết gần đây. Nước khan hiếm vô cùng, nước suối đọng thành từng vũng, từng khe, mặt nước đóng váng vàng khè. Phải bớt cát lọc từng bát.

Các loại máy bay L19, VO10, HU1A và cả những loại máy bay trông như cái quan tài, như cái cầu ao, như cái gáo thi nhau quần đảo, bay lượn trên trời.

Gặp nhiều đ/c thương binh ra, có mấy đ/c nữ còn rất trẻ cụt tay. Các đ/c ấy rất vui, không có gì là buồn cả nhưng cũng thật cứng rắn, dạn dày. Chúng mình rất cảm phục các đ/c ấy và nguyện sẽ xứng đáng như các đ/c ấy.

24.4.1970

05h00 sáng lên đường. 08h00 tới Trạm K1, đi 1 tiếng 50 phút mới có chỗ lấy nước, mà khan hiếm vô cùng. Mình cùng Xuân leo cây lấy quả túi quả gùi (quả gùi như quả chay ngoài Bắc, sống bằng dây, leo ở những cây cao to. Các đ/c ở đây kể có thời kỳ thiếu gạo họ đã ăn quả gùi thay cơm). Bọn mình lấy quả gùi nấu canh chua, thế mà ngon.

Chiều nay lấy gạo, được cấp thêm một ngày gạo ngoài tiêu chuẩn để bù hao hụt trên đường hành quân. Mỗi đ/c được một lạng đường cát, thêm một ít củ cải khô, một ít cá khô. Phân đội mình lại nấu cháo đường, ai cũng khao khát được như vậy. Nhất là các đ/c ốm.

12-13 cuối tuần SỐ 37 (1337) 14-9-2014 VĂN NGHỆ LTS- "Không một lý do gì ta lại lùi bước tụt lại phía sau" - đó là lời tâm niệm của người chiến sĩ đặc công trẻ Nguyễn Tiến Bình viết trong nhật ký khi vượt Trường Sơn vào chiến trường năm 1970. Hơn 40 năm sau, cuốn nhật ký được xuất bản và vừa qua, Báo Nhân Dân cùng NXB Chính trị Quốc gia đã tổ chức công bố. Đoạn trích dưới đây là những gì tác giả ghi lại trong chặng cuối của đường hành quân và những ngày đầu trực tiếp chiến đấu với quân đội viễn chinh Mỹ. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

6.5.1970

Lâu rồi mình không viết nhật ký, hơn 10 ngày rồi còn gì. 10 ngày qua bao kỷ niệm đã trôi qua... Chúng mình đã tập kết tại Trạm K4 (lẽ ra vào sâu hơn nhưng nghe nói địch đang mở một trận càn lớn, nên dừng lại ở đây. Bắt đầu bước vào chiến đấu thực sự với thằng Mỹ). Chúng mình được bổ sung về ấp 5, Ba Tri - đoàn Bến Tre (tức Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 23, Sư đoàn 5 bộ binh). Binh chủng là đơn vị đặc công lại bổ sung về đơn vị bộ binh.

Anh em đều thắc mắc, không rõ ra sao nhưng đều xác định nhiệm vụ gì cũng hoàn thành...

16.5.1970

10 ngày trôi qua như cơn gió lốc, chúng mình đã thực sự bước vào trận chiến đấu. Bọn lính thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 mang cái phù hiệu đầu ngựa trên vai. Bọn lính thuộc Sư đoàn Tia chớp nhiệt đới số 25. Lữ đoàn 199 bộ binh nhẹ của Mỹ. Hết lũ này đến lũ khác, cả trên trời, cả dưới đất. Cả ngày, cả đêm, mọi nơi. Tiểu đoàn mình được lệnh tách khỏi đội hình Trung đoàn và Sư đoàn, độc lập hoạt động giữa vòng vây kẻ thù, phải thu hút lực lượng địch, phải khôn khéo bảo tồn lực lượng nhưng phải lừa được địch luôn luôn bám theo mình, để lực lượng của trên có điều kiện tập trung đập cho giặc những đòn trừng phạt nặng nề, những quả đấm quyết định.

10 ngày hành quân cơ động liên tục, không để địch bao vây tiêu diệt nhưng luôn luôn nhử địch bám theo, cố tình tạo ra một số dấu vết để chúng không mất hy vọng là bám theo con mồi giá trị, và cho chúng có cảm tưởng nắm phần thắng trong tay. Bao nhiêu lần đụng địch phục kích, bao nhiêu trận đánh địch càn thẳng vào đội hình, bao nhiêu lần tìm địch mà đánh thẳng vào sở chỉ huy trận địa pháo, cơ sở phương tiện chiến tranh của địch. Mình không nhớ nữa, cũng chẳng viết được một dòng nhật ký nào. Suốt ngày bom đạn ầm ĩ, máy bay gào thét, muốn chợp mắt ngủ một lát cũng khó huống chi là viết nhật ký.

Bọn giặc cay cú vì không tiêu diệt được chúng tôi. Chúng chỉ đánh hơi thấy nhưng chưa rõ thực hư như thế nào, chúng say với con bài nên dốc tất cả mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí để bao vây tiêu diệt chúng tôi. Tất cả các loại cối, pháo cho đến pháo 230 ly, 400 ly cũng dùng tới; rồi đủ các loại OV10, L19, C47, C130, B57, các loại trực thăng: cá rô, kỳ đà, cần cẩu, xe tăng M113, M41 và cả M48 nữa.

Suốt ngày ầm ĩ một thứ âm thanh gào thét hỗn độn rất khó tả. Trên những chiếc trực thăng kiểu cá rô (chúng mình đặt tên như vậy), những thằng Mỹ mập ú ngồi chật cả cửa lên xuống, không mặc áo, mặt và ngực đỏ như con gà chọi, lông lá xồm xoàm.

Chiếc mũ sắt chụp lấy khuôn mặt như đang nhăn nhó, tay lăm lăm khẩu trung liên hoặc M79 sẵn sàng bắn hàng tràng đạn một cách điên cuồng vào mọi nơi nào chúng nghĩ có Việt Cộng. Chúng mình đang chơi trò ú tim với chúng. Chúng mình nghèo hơn, chạy bằng đôi chân đất, chúng nó có đủ mọi phương tiện nhưng mà đần độn. Chúng nó khó tìm thấy chúng mình, nhưng chúng mình lại luôn tìm thấy chúng nó, ví như hiện giờ mình chỉ cần néo cò bắn một loạt AK khoảng 2 - 3 viên gì đó là cả thằng Mỹ và chiếc máy bay sẽ đâm nhào xuống đất. Nhưng không ai bắn, không phải vì sợ hãi mà tha cho chúng nó, vì bắn bây giờ chưa có lợi. Bọn địch đang tập trung lực lượng để chụp gọn mình.

Mấy chiếc trực thăng kia cũng chỉ là con mồi, chúng định lừa mình bằng cái trò chơi con trẻ đó, nhưng chúng sẽ bị thua thôi. Chính cả đám chúng nó mới đang bị lừa cay cú.

Tối hôm qua chúng mình tập kích vào trận địa của tiểu đoàn pháo Mỹ.

Cả trận địa pháo của địch bị tiêu diệt gọn nhưng lúc ra vì bị lộ cửa mở. Bốn đại đội biệt kích của chúng vây quanh, bên ta hy sinh và mất tích chín đ/c, chỉ có Khởi và Mài về. Đ/c Hoán (A trưởng A5 của C6) cũng anh dũng hy sinh trong trận đánh càn sáng qua, khi hai mũi tấn công của hai tiểu đoàn địch, bọn Kỵ binh bay số 1 chọc thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn của mình. Các cán bộ tiểu đoàn đều là những người từng trải. Đ/c Luyên - Chính trị viên, vào B từ năm 1960, 1961 gì đó.

Đ/c Thông - Tiểu đoàn trưởng, cũng vậy. Trong khó khăn ác liệt, các đ/c vẫn rất bình tĩnh, kiên nghị, không một biểu hiện nhỏ là dao động hay vội vàng. Mình học tập được rất nhiều điểm tốt đẹp trong tác phong lãnh đạo chỉ huy của các đ/c ấy.

18.5.1970

Viết nhật ký trong điều kiện này thật là phức tạp, chiến đấu và cơ động liên tục, vừa đánh vừa chuyển quân, cứ quanh quẩn trong vòng vây của địch vậy thôi. Không để bị địch chụp gọn và tiêu diệt nhưng cũng không bỏ xa chúng. Bọn địch cũng cảm thấy nóng ruột nhưng cũng có khi cảm thấy như đã bị lừa. Vì chúng chưa được trực diện thấy cái đội quân ẩn hiện trước mắt như thế nào. Chúng tìm đánh thì không gặp nhưng mà lại bị đánh tận chỗ ngủ. Chúng vẫn để những lực lượng bám sát chúng tôi, nhưng có tăng cường hoạt động ở các trục hướng khác.

Đ/c Sơn K19 đã hy sinh sau khi diệt một M41. Đ/c Chi và đ/c Hồng ở Phân đội trinh sát đi bám địch bị lộ, hai đ/c đã anh dũng chiến đấu và hy sinh.

Chiều nay tổ trinh sát của Hành phát hiện thấy xác của hai đồng chí ở gần một chốt Mỹ. Đơn vị tổ chức làm lễ mai táng cho hai đ/c. Ai cũng lặng người đi trước những tổn thất của đơn vị, trước sự ngã xuống của các đồng đội thân yêu. Mới hôm qua, họ còn ăn một mâm, ngủ một hầm với mình.

Căm thù càng chồng chất. Chúng ta càng không thể ủy mị yếu hèn. Nhất định giặc Mỹ phải đền tội ác.

19.5.1970

Mấy hôm nay đơn vị tạm rút vào bí mật. Im lặng, kín đáo khó tưởng, không một hoạt động, có ai đi qua bên đường cũng tưởng đây là căn cứ bỏ trống lâu ngày, không có người ở. Ban ngày bộ đội ngủ, ban đêm mới ra đường. Múc nước đọng ở những ổ gà, ở những vết hằn của bánh xe để về nấu ăn. Nước vừa đục vừa đóng váng dầu mỡ, nhưng không thể kiếm ở đâu ra. Anh em mệt nhiều, tạm nghỉ một hai hôm lấy sức chuẩn bị bước vào đợt chiến đấu mới chứ.

Hôm nay giặc Mỹ đã cướp đi hai đ/c thân yêu: Đ/cĐức quê ở Yên Dũng (Hà Bắc), đ/c Quý ở Văn Giang (Hải Hưng). Trong lúc đi bám địch, hai đ/c lọt vào ổ phục kích của bọn Mỹ. Hai đ/c được chôn cất ngay dưới mấy gốc cây bằng lăng còn tím bầm vết đạn. Cây số 13 Đường 14"...