Khi cơ hội chưa đi cùng khả năng tiếp cận
Với một nữ tài xế công nghệ, chuyển từ xe xăng sang xe điện không đơn thuần là thay đổi phương tiện. Đó còn là bài toán về khoản tiền trả trước, chi phí vay, địa điểm sạc, thời gian chờ sạc, bảo dưỡng và thu nhập thực nhận sau khi trừ các khoản chi phí vận hành.
Tương tự, một phụ nữ làm chủ cơ sở sản xuất nhỏ muốn tham gia chuỗi cung ứng phát thải thấp có thể phải đầu tư máy móc, cải tiến quy trình, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc trước khi nhận được đơn hàng đầu tiên. Cơ hội thị trường đã xuất hiện, nhưng khả năng nắm bắt cơ hội lại phụ thuộc vào những nguồn lực không phải ai cũng có.
Hai tình huống ấy đặt ra cùng một câu hỏi quan trọng đối với tiến trình chuyển đổi xanh: Khi nền kinh tế thay đổi, ai có đủ điều kiện để bước vào những lĩnh vực mới, ai phải gánh chịu chi phí chuyển đổi và ai thật sự được hưởng lợi?
Tại Việt Nam, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh theo Quyết định số 882/QĐ-TTg đã xác lập định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững. Quá trình này mở ra nhu cầu nhân lực trong năng lượng sạch, giao thông điện, tái chế, nông nghiệp tuần hoàn, dịch vụ môi trường và logistics phát thải thấp.
Đáng chú ý, việc làm xanh không chỉ giới hạn trong những vị trí kỹ thuật. Điều đó đồng nghĩa với việc phụ nữ có thể tham gia chuyển đổi xanh ở nhiều vị trí: người lao động, nhà quản lý, chủ doanh nghiệp, nhà cung ứng hay người phát triển giải pháp. Không nên mặc định công việc kỹ thuật thuộc về nam giới, còn phụ nữ chỉ phù hợp với các vị trí hành chính hoặc tiếp thị.
Trong nền kinh tế xanh, vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường không phải những yếu tố tồn tại độc lập. Chúng liên kết với nhau, tạo thành điều kiện để một người lao động chuyển đổi nghề nghiệp hoặc một cơ sở kinh doanh tham gia chuỗi giá trị mới. Với phụ nữ làm chủ các cơ sở kinh doanh nhỏ, những khó khăn như mở rộng nguồn vốn, đa dạng kỹ thuật... có thể trở nên đáng lo ngại hơn, nếu khả năng tích lũy tài sản, tiếp cận mạng lưới kinh doanh và nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế.
Các cơ chế tài chính xanh đang từng bước được hình thành. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Nghị quyết số 198/2025/QH15 đặt ra cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với những khoản vay đáp ứng điều kiện liên quan dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị. Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp cũng có những điều chỉnh nhằm tạo thêm điều kiện cho các mô hình sản xuất hữu cơ, tuần hoàn.
Tuy nhiên, từ sự hiện diện của một chính sách đến khả năng tiếp cận của người cần vốn vẫn còn khoảng cách. Vấn đề không phải hạ thấp yêu cầu quản trị rủi ro, mà là xây dựng những cơ chế phù hợp hơn với đặc điểm sinh kế. Chi phí vay, kỳ hạn trả nợ, khả năng duy trì thu nhập trong thời gian chuyển đổi và những khoản chi phí phát sinh cần được tính toán minh bạch.
Tương tự, công nghệ số có thể giúp phụ nữ tiếp cận khách hàng, quản lý hoạt động kinh doanh và tham gia chuỗi cung ứng, nhưng việc có một tài khoản số không đồng nghĩa với khả năng sử dụng công nghệ hiệu quả. Chuyện thiếu thiết bị, kỹ năng, thời gian học tập hoặc dữ liệu phù hợp đều có thể khiến những lợi ích của chuyển đổi số phân bổ không đồng đều.
Đặc biệt, trách nhiệm chăm sóc gia đình và công việc không được trả lương có thể làm giảm thời gian phụ nữ dành cho đào tạo, phát triển nghề nghiệp và mở rộng kinh doanh. Một khóa học miễn phí vẫn có thể nằm ngoài tầm với nếu được tổ chức xa nơi cư trú, theo lịch cố định hoặc đòi hỏi người học phải tạm ngừng công việc tạo thu nhập.
Từ hỗ trợ riêng lẻ đến giải pháp đồng bộ
Hiệu quả của các chính sách cần được nhìn nhận từ khả năng giải quyết những khó khăn cụ thể. Hỗ trợ đào tạo sẽ có ý nghĩa hơn khi gắn với nhu cầu tuyển dụng hoặc đơn hàng. Hỗ trợ tín dụng cần đi cùng phương án kinh doanh khả thi. Khuyến khích sử dụng công nghệ phải đồng thời quan tâm đến năng lực vận hành và chi phí duy trì. Chẳng hạn, trong lĩnh vực giao thông điện, một nữ tài xế không chỉ cần mức giá mua xe phù hợp. Khả năng chuyển đổi còn phụ thuộc vào hệ thống trạm sạc, thời gian sạc, bảo hành, sửa chữa và sự tương thích giữa lịch trả nợ với dòng thu nhập thực tế.
Nếu phương tiện mới làm giảm chi phí nhiên liệu nhưng thời gian chờ sạc kéo dài hoặc chi phí trả góp vượt quá khả năng chi trả, lợi ích kinh tế có thể không đạt như kỳ vọng. Vì thế, chính sách khuyến khích chuyển đổi phương tiện cần được đánh giá trên cả phương diện môi trường lẫn hiệu quả sinh kế.
Đây cũng là lý do sự phối hợp giữa các bên có vai trò quan trọng. Doanh nghiệp sản xuất phương tiện hiểu đặc tính sản phẩm và dịch vụ bảo hành; tổ chức tài chính có chuyên môn đánh giá khoản vay; nền tảng dịch vụ nắm được đặc điểm hoạt động của người lao động; đơn vị đào tạo hỗ trợ bổ sung kỹ năng; trong khi các tổ chức, mạng lưới phụ nữ có thể nhận diện những trở ngại ít được chú ý.
Trong tháng 10/2026, Delta West Group cùng các đối tác giới thiệu sáng kiến coLoan, hướng tới kết nối các tổ chức tài chính, nhà sản xuất phương tiện và nền tảng dịch vụ nhằm hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện, trước mắt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sáng kiến này gợi mở cách tiếp cận dựa trên sự phối hợp giữa nhiều chủ thể, thay vì chỉ cung cấp một hình thức hỗ trợ đơn lẻ. Tuy nhiên, kết quả vẫn cần được đánh giá qua quá trình triển khai: Người lao động có tiếp cận được nguồn tài chính phù hợp hay không, chi phí vận hành thay đổi thế nào và thu nhập thực nhận có được cải thiện hay không?
Những câu hỏi tương tự cũng cần được đặt ra đối với các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ tham gia chuỗi cung ứng xanh. Số lượng người được tập huấn hay số doanh nghiệp đăng ký chương trình mới chỉ phản ánh mức độ tham gia ban đầu. Điều quan trọng hơn là bao nhiêu cơ sở đáp ứng được tiêu chuẩn, có đơn hàng, được thanh toán đúng hạn và duy trì được hoạt động kinh doanh.
Một quá trình chuyển đổi xanh công bằng không có nghĩa mọi phụ nữ đều cần cùng một hình thức hỗ trợ. Nữ công nhân, lao động phi chính thức, người chăm sóc gia đình, phụ nữ nông thôn và chủ doanh nghiệp nhỏ có những điều kiện xuất phát khác nhau. Chính sách, vì thế, cần đủ linh hoạt để nhận diện sự khác biệt ấy.
Việc thu thập dữ liệu theo giới về khả năng tiếp cận tài chính xanh, cơ hội đào tạo, chất lượng việc làm và tác động đến thu nhập sẽ giúp các chương trình hỗ trợ được thiết kế sát thực tế hơn. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục phù hợp với quy mô đầu tư nhỏ, nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu về môi trường, tính minh bạch và quản trị rủi ro.
Thành công của nền kinh tế xanh không chỉ được đo bằng số việc làm mới hay lượng phát thải được cắt giảm, mà còn ở khả năng giúp phụ nữ nâng cao thu nhập, phát triển năng lực và chủ động hơn trong các quyết định kinh tế. Chỉ khi đó, cơ hội xanh mới thật sự trở thành cơ hội bình đẳng ■
Thước đo thành công phải chuyển từ số lượng hoạt động hỗ trợ sang kết quả mà phụ nữ thật sự nhận được. Một chương trình đào tạo có giúp người học tìm được việc làm tốt hơn? Một khoản vay có tạo ra thu nhập đủ để trả nợ và tích lũy? Một doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng xanh có thêm khách hàng và khả năng phát triển lâu dài?