Khai thác tiềm năng kinh tế chia sẻ

Tại Việt Nam, kinh tế chia sẻ chưa phát triển mạnh như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Song nước ta được đánh giá là rất nhiều tiềm năng để phát triển mô hình kinh tế này nếu giải quyết được những thách thức hiện hữu.
Hiện có khoảng gần 70 nghìn xe ô-tô vận tải hành khách theo hợp đồng dịch vụ trực tuyến. Ảnh: NAM ANH
Hiện có khoảng gần 70 nghìn xe ô-tô vận tải hành khách theo hợp đồng dịch vụ trực tuyến. Ảnh: NAM ANH

Cơ hội đan xen thách thức

Theo Báo cáo về tình hình và kết quả 4 năm triển khai Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết năm 2023, nhiều mô hình kinh tế chia sẻ đã xuất hiện tại Việt Nam. Trong đó nổi lên ba loại hình dịch vụ đang phát triển rất mạnh mẽ. Đối với dịch vụ chia sẻ phương tiện giao thông, từ chỗ chỉ có hai công ty với vài trăm lái xe vào năm 2014, đến nay thị trường gọi xe công nghệ đã phát triển rất nhanh và lớn mạnh với hàng trăm nghìn phương tiện, lái xe của các hãng xe công nghệ như Grab, GoViet, Dichung... Phạm vi cũng mở rộng ra các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước.

Hiện có khoảng gần 70.000 xe ô-tô vận tải hành khách theo hợp đồng dịch vụ trực tuyến. Công ty Grab có hơn 200.000 đối tác tài xế ô-tô và xe gắn máy, 16.000 đối tác nhà hàng, kinh doanh thực phẩm; Công ty Gojek có 150.000 lái xe, 80.000 đối tác nhà hàng. Trong đó, ngoài việc sử dụng phương tiện, tài sản nhàn rỗi để đưa vào kinh doanh, có một tỷ lệ đáng kể các phương tiện, tài sản được đầu tư mới cho mục đích kinh doanh theo mô hình kinh tế này.

Trong lĩnh vực dịch vụ lưu trú, du lịch, mô hình Airbnb (dịch vụ chia sẻ nhà ở cho người đi du lịch) du nhập vào Việt Nam năm 2014. Từ đó đến nay các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cùng một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tham gia mạng lưới Airbnb với số lượng phòng ngủ, nhà cho thuê tăng mạnh, đạt hơn 40.800 cơ sở vào cuối năm 2019. Mô hình Airbnb còn phát triển ở một số địa phương gắn với địa điểm du lịch như: Khánh Hòa, Quảng Nam…

Ngoài ra, còn có mô hình Triip.me, Travelmob… đăng tải thông tin về việc cho thuê nhà, phòng ở trong thời gian ngắn. Theo Bộ Xây dựng, từ năm 2015 - 2019, đã có khoảng hơn 58.000 căn hộ officetel (mô hình kinh tế chia sẻ kết hợp văn phòng - khách sạn) được thẩm định thiết kế cơ sở và đầu tư xây dựng thuộc 130 dự án, chưa kể hàng chục nghìn căn condotel, officetel đã được đầu tư tại các dự án do các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư thẩm định thiết kế theo thẩm quyền. Cũng đã xuất hiện những nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh theo mô hình thông qua việc thuê lại căn hộ, phòng trống để đầu tư trang bị cơ sở vật chất cho kinh doanh, qua đó tạo sự cạnh tranh với dịch vụ lưu trú truyền thống.

Đối với loại hình dịch vụ cho vay ngang hàng (P2P Lending) - chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp công nghệ tài chính (fintech). Loại hình fintech đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp công nghệ lớn như FPT, Viettel, VNPT thông qua các hoạt động trực tiếp và gián tiếp như đầu tư hình thành các công ty, thành lập các quỹ đầu tư, vườn ươm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp fintech. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng rất quan tâm đến thị trường cho vay tiêu dùng của Việt Nam, trong đó khoảng 100 công ty P2P lending đã đi vào hoạt động, phần lớn của các nhà đầu tư nước ngoài.

Nhìn nhận về những đóng góp của kinh tế chia sẻ tại Việt Nam thời gian qua, ông Nguyễn Bình Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) cho rằng, rõ ràng mô hình này đã có bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo về nền kinh tế số Đông Nam Á năm 2022 của Google Temasek và Temasek và Bain&Co, nền kinh tế số của Việt Nam năm 2023 đạt 30 tỷ USD và dự báo có thể đạt 200 tỷ USD vào năm 2030. Trong đó có nhiều lĩnh vực của nền kinh tế chia sẻ có tiềm năng rất lớn như đặt xe hay giao đồ ăn trực tuyến có thể đạt tới 10 tỷ USD năm 2030. Kinh tế chia sẻ đã tạo ra rất nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân, qua đó đóng góp tích cực cho tăng trưởng.

Tuy nhiên, ông Minh cho rằng, Việt Nam mới trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, thiếu rất nhiều quy định về kinh tế chia sẻ, do đó việc khai thác tiềm năng của mô hình còn hạn chế. Bên cạnh đó, không tránh được những tác động trái chiều. Chẳng hạn, mô hình dịch vụ thiếu những quy định kiểm soát dịch vụ khiến xảy ra nhiều tranh chấp khó xử lý. Hay việc thiếu nhận thức, kỹ năng trong quá trình kinh doanh chia sẻ khiến xảy ra không ít sự cố trong quá trình vận hành.

Còn theo ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), bản chất của kinh tế chia sẻ là dựa trên nền tảng công nghệ, dữ liệu và tận dụng kinh tế quy mô để kết nối và phát huy hiệu quả kinh tế. Với lợi thế của quốc gia có dân số đông, am hiểu về công nghệ, độ phủ internet rộng khắp…Việt Nam có tiềm năng lớn để khai thác mô hình này. Không chỉ người tiêu dùng được hưởng lợi, Nhà nước có thể có nguồn thu thuế rất lớn nếu quản lý hiệu quả. Kinh tế chia sẻ có thể mang đến một diện mạo mới cho nền kinh tế vốn dựa nhiều vào khai thác nguồn lực truyền thống của Việt Nam. Tuy vậy, cũng theo ông Hòe, khoảng trống pháp lý đang đặt ra nhiều thách thức. Ngay trong lĩnh vực fintech, mô hình kinh tế chia sẻ đã giúp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Rủi ro ở đây chính là bảo mật, an toàn dữ liệu nếu không có quy định hợp lý và hiệu quả.

Ông Lưu Đức Khải, Trưởng ban Nghiên cứu các vấn đề xã hội, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cũng chỉ ra một thách thức lớn, đó là xu hướng các tập đoàn lớn của nước ngoài đẩy mạnh mua lại cổ phần chi phối tại các công ty thuộc loại hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam. Sự biến tướng của loại hình này có thể dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp lớn thôn tính và lũng đoạn thị trường. Các doanh nghiệp này sẽ kinh doanh với mức giá thấp để lôi kéo người tiêu dùng và tiến tới độc quyền, sau khi loại các đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức truyền thống.

Lấp khoảng trống pháp lý

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ xu hướng phát triển tất yếu của mô hình kinh tế chia sẻ. Quyết định 999/QĐ - TTg đã bước đầu tạo ra nền tảng pháp lý thể hiện “sự hậu thuẫn” của Nhà nước giúp cho các công ty công nghệ hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ, tạo ra một sân chơi chung, cạnh tranh bình đẳng giữa công ty truyền thống và công ty công nghệ. Do đây vẫn là một xu hướng mới, liên tục xuất hiện những hình thức kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau, mỗi hình thức lại đặt ra những rủi ro khác nhau, đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Điều này gây không ít khó khăn trong triển khai thực hiện các quy định, giải pháp, nhiệm vụ tại Quyết định 999.

Đề xuất xây dựng mô hình kinh tế chia sẻ hiệu quả, ông Nguyễn Bình Minh cho rằng, thành phần chính tham gia nền kinh tế chia sẻ là người dân và người dân là những người tiêu dùng cuối. Họ là người sở hữu và chia sẻ sở hữu về tài sản đối với người sử dụng trong nền kinh tế. Vì vậy, hầu hết nền kinh tế chia sẻ sẽ mang tính chất nhỏ lẻ hơn là quy mô lớn. Chính vì vậy, các luật quy định về quyền lợi của người tiêu dùng hay pháp luật kinh doanh thương mại điện tử cần tạo thuận lợi để người dân tham gia vào nền kinh tế chia sẻ có hiệu quả.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Tổng hợp, Viện Nghiên cứu và quản lý Trung ương cho rằng, để quản lý yếu tố công nghệ đặc biệt là các nền tảng mới của kinh tế chia sẻ thì phải dùng chính công nghệ để quản lý và coi nó là chủ thể mới, chủ thể riêng biệt xuất hiện trong nền kinh tế chia sẻ. Tránh hiện tượng quy chiếu, các chủ thể mới trong mô hình cũ, khiến cản trở mô hình kinh doanh này.

Còn theo ông Phạm Xuân Hòe, không thể dùng hành lang pháp lý của cơ chế cũ để áp đặt cho mô hình mới. Hiện tại, vướng mắc rất lớn chính là chính sách và cơ chế giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính. Kinh tế chia sẻ có đặc điểm rất quan trọng là nó san bằng khoảng cách quản lý ngành. Nhiều lĩnh vực có liên quan, hỗ trợ lẫn nhau. Chính vì vậy, việc soạn thảo chính sách đòi hỏi vai trò điều tiết của Chính phủ nhưng quan trọng hơn là giữa các bộ, ngành phải rất ăn khớp trong việc đề xuất kiến nghị tới Chính phủ.