Ở những xã hội tử tế, bước đầu tiên khi đi ra khỏi nhà của bọn trẻ thường là bước chân tới trường học. Theo nguyên tắc kinh điển phương Đông, ở buổi tựu trường đầu tiên đó, người cha bắt buộc phải dẫn. “Cốc Lương truyện“ từ thời Hán chép. “Từ một đến tám tuổi mà con bị họa nước lửa thì đó là lỗi tại người mẹ. Từ tám đến mười sáu tuổi mà con không biết chữ thì đó là lỗi tại người bố. Còn từ mười sáu đến hai tư tuổi học chữ mà không giỏi thì đó là lỗi tại mình“. Hồi xa xưa, khi học phong còn trong trắng, tuyệt đối chỉ có bọn con trai mới được tới trường. Theo quan niệm giáo dục hồi ấy, con gái biết chữ cũng chẳng để làm gì. Những thiếu nữ biết đọc sách đa phần đều là đám tiểu thư khuê các. Bọn họ hóng hớt chữ từ mấy tủ sách đồ sộ của gia đình, hoặc từ đám gia sư được ông bố quyền quý nuôi ăn ở trong nhà. Nếu muốn học cao nữa thì đành giả trai như bi kịch của cô bé Chúc Anh Đài. Tất nhiên con gái biết chữ thì không hẳn là tai họa, nhưng nói chung là bất hạnh, ví như Vương Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du chẳng hạn. Nàng Kiều văn hay chữ tốt thì ngoài việc lành mạnh biên được vài thư tình gửi bạn giai. Còn đâu cũng chỉ toàn nức nở, ngồi viết bản kiểm điểm nộp cho má mì “Thân lươn bao quản lấm đầu. Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa“.
Khi dắt con giai ra mắt thầy, các ông bố thường chân thành trình một lễ. Thỏi mực cuốn vở là hiển nhiên. Nhà dư dật là ít bạc vụn phong chè, nhà tùng tiệm là đôi gà sống kèm đấu gạo ngon. Tới cửa nhà thầy, người cha khúm núm vái, lễ phép trình bầy xin con được học chữ. Thầy hiền lành cười. “Có chữ học làm kẻ sĩ, có chữ học làm tiến sĩ. Nhà bác thích cháu học làm loại nào“. Người cha rưng rưng. “Thôi thì trăm sự nhờ thầy“. Lễ nghi nhập học đại loại đơn sơ chân thành như vậy. Cứ đọc tiểu thuyết của hai nhà Nho người Việt là Chu Thiên và Ngô Tất Tố là thấy. Khác hẳn hôm nay, phụ huynh ra mắt thầy thường là sồn sồn mấy bà mẹ. Chẳng cứ chạy trường chạy lớp, ngay cả thiêng liêng những ngày 20-11 Hiến Chương nhà giáo, tất tật đều dúi cho thầy cả đống phong bì. Gần giống như một thứ tiền để chuộc con tin. Chao ôi, lễ vật đã dung tục thì bút nghiên lấy đâu ra thanh tao. Bởi sâu xa trong trái tim của những người chân thành hiếu học, luôn lồng lộng hình ảnh của một hoặc vài người thầy vô tư uyên bác. Vào thời văn hiến của nước Việt đang cao, vị trí của người thầy chỉ sau có vua và trên cả những bậc sinh thành. Theo nếp cũ, chiều muộn mồng Một hoặc sáng sớm mồng Hai tết, học sinh thường đến thăm viếng thầy. Trò tuy thành danh (đa phần ở hoạn lộ), khi xênh xang về tết thầy cũ thì chẳng cần có biển “hạ mã”, cũng biết điều mà giấu ngựa giấu kiệu vào một xó nào đấy rồi khúm núm đi bộ tới vấn sư. Bây giờ ô-tô nhiều, cảnh này đã thất truyền, cố chỉ thấy lác đác ở trong tranh dân gian Đông Hồ.
Chính vì thế mà cho trẻ con đi học không bao giờ chỉ là học lấy chữ. Có một dạo dài ở ta, nhiều trường đã cho treo lại một khẩu hiệu tưởng như đã cũ: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Vấn nạn bằng cấp bây giờ đang tràn lan chính là hệ lụy của việc nhầm tưởng hiếu học là hiếu chữ. Sự cao thượng hiếu học không có chỗ cho sự tầm thường hiếu danh. Ở Hà Nội thời Pháp thuộc, trong giới chân dài thượng lưu còn tồn tại một câu nhố nhăng mang vẻ thành ngữ “phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Theo khảo sát riêng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, tất cả những thằng Sở Khanh hồi ấy đều cố gắng phấn đấu cho được cái bằng cao đẳng.
Khi chữ đã bị tha hóa thì nó dễ có mầu của tiền. Nhiều học trò thông minh sáng mắt khi nhìn thấy mầu đấy thì hốt hoảng ra sức lèn chữ, tích chữ cho thật đầy óc, cho thật chật bụng. Họ a dua theo vẻ ngoài những đại nhân hiếu học, cũng mệt mài tự treo tóc lên xà nhà để khỏi ngủ gật mà nuốt chữ. Rồi lom khom đi bắt đom đóm thay đèn, cố trợn hết lờ mờ cả mắt mà ngốn chữ. Những người thân tầm thường chung quanh hào hứng cổ vũ, ai nấy đều âm thầm hớn hở ích kỷ nghĩ tới ngày, nhà mình sẽ vinh thân mình sẽ phì.
Trò nếu vậy thì liệu thầy có đau lòng không, bởi giáo dục đâu phải là riêng từ một phía. Từ xa xưa, nghề làm thầy (bây giờ đã có làm cô) luôn là tối thiêng liêng và cực kỳ cao cả. Nó âm thầm gìn giữ nuôi dưỡng những nhân cách thiện lương cho cuộc sống. Nghề làm thầy tự nhiên như muối của đời, cái độ mằn mặn của nó nếu cố phải nếm cũng chỉ thấy đằm đặm lấp lánh trong vô vàn thế hệ học trò. Rất nhiều những người thầy thanh đạm đã tự ví mình như một lái đò ngày ngày cần mẫn chở từng con người từ bờ bên này sang bến bên kia, cái bến có long lanh chứa một sự tự biết tự hiểu để rồi tự trọng tự ngộ. Không phải ngẫu nhiên mà cho tới tận hôm nay ở ta, chỉ duy có nghề giáo và nghề thuốc vẫn được thiên hạ trân trọng tôn xưng gọi là thầy. Hỡi ôi, một nghề thì sửa chữa cơ thể của người ta, một nghề thì uốn nắn tâm hồn của người ta, nên đương nhiên xứng đáng.
Có lẽ vì hiểu được những phẩm chất tuyệt vời của thầy và trò là không khoa trương, nên một dạo dài Bộ Giáo dục miệt mài phát động phong trào “nói không với bệnh thành tích”. Nghe đài đọc báo xem ti-vi thì hình như phong trào này luôn cuồn cuộn ở đỉnh cao. Cũng một hôm lâu rồi, có việc đi ngang qua một trường tiểu học bỗng thấy cô hiệu trưởng đang đứng trước bạt ngàn học sinh, đọc một cái kiểu như quyết tâm thư “Trong phong trào nói không với bệnh thành tích, trường ta đã lập được một thành tích to lớn là...”.
Gần đây phong trào nói không với dạy thêm và học thêm cũng được bàn nhiều, thậm chí có một thầy hiệu trưởng vừa bàn vừa bật khóc. Thôi thì, công cuộc giáo dục vốn là một sự nghiệp dài lâu. Chỉ hy vọng rằng, với những thành tựu to lớn mà nền giáo dục nước nhà đã đạt được, thầy và trò sẽ không phải nói không với bất cứ một vấn đề nào nữa.