Điện gió ngoài khơi cho kinh tế biển

Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác định phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới là một trong những trụ cột để xây dựng quốc gia biển mạnh. Điện gió ngoài khơi đang đứng trước cơ hội chuyển mình từ một nguồn điện sạch thành động lực phát triển của cả một ngành công nghiệp biển.

Cánh đồng điện gió ở Bạc Liêu. Ảnh: VŨ ANH TUẤN
Cánh đồng điện gió ở Bạc Liêu. Ảnh: VŨ ANH TUẤN

Dù được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng điện gió ngoài khơi hàng đầu khu vực, song đến nay Việt Nam vẫn chưa có dự án thương mại nào được triển khai. Vì vậy, để biến tiềm năng thành hiện thực, điều quyết định không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn là khả năng hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực đầu tư.

Từ tiềm năng đến quyết tâm chính sách

Với hơn 3.260km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn một triệu km² và điều kiện gió được đánh giá thuộc nhóm thuận lợi nhất châu Á, Việt Nam sở hữu lợi thế hiếm có để phát triển điện gió ngoài khơi. Nhiều nghiên cứu quốc tế đánh giá tiềm năng kỹ thuật của loại hình năng lượng này có thể lên tới khoảng 600GW, vượt xa nhu cầu phát triển trong nhiều thập niên tới.

Nhận diện rõ dư địa đó, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển từ 6 - 17GW điện gió ngoài khơi trong giai đoạn 2030 - 2035 nhằm phục vụ nhu cầu trong nước. Đáng chú ý hơn, Nghị quyết số 20 - NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã xác định đến năm 2030 công suất điện gió ngoài khơi đạt từ 6 - 10GW, đồng thời coi phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới là một trong những định hướng quan trọng của chiến lược phát triển đất nước.

Nếu như Nghị quyết số 36 - NQ/TW được ban hành năm 2018 đặt nền móng cho chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển thì Nghị quyết số 20 - NQ/TW ban hành mới đây đã tiến thêm một bước khi cụ thể hóa vai trò của điện gió ngoài khơi trong mô hình tăng trưởng mới. Điều này cho thấy cách tiếp cận đã có sự thay đổi đáng kể. Điện gió ngoài khơi trở thành cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế biển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Sự thay đổi về tư duy chính sách cũng phản ánh yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, nhu cầu điện dự báo tiếp tục gia tăng mạnh trong nhiều năm tới. Việc phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ góp phần đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu mà còn nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng trước những biến động của thị trường thế giới.

Đây là lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn nhiều so với sản lượng điện. Tại Hội nghị Năng lượng gió châu Á - Thái Bình Dương năm 2026 diễn ra vào tháng 6/2026, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng đã chỉ ra rằng, Việt Nam cần phát triển điện gió ngoài khơi gắn với các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ. Lợi thế của Việt Nam sẽ được phát huy đầy đủ khi hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh, tạo sức lan tỏa tới nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.

Không chỉ là nguồn điện mới

Mỗi dự án điện gió ngoài khơi được đánh giá sẽ tạo thêm các cơ hội để phát triển về khảo sát biển, chế tạo thiết bị, xây dựng cảng chuyên dụng, logistics, vận tải biển, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng và hàng loạt dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, quốc gia nào sớm xây dựng được chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi sẽ có lợi thế lớn trong cuộc cạnh tranh về công nghệ xanh và công nghiệp năng lượng, đồng thời tăng khả năng đóng góp cho tăng trưởng, đổi mới công nghệ và tạo việc làm chất lượng cao.

Đối với Việt Nam, dư địa phát triển chuỗi giá trị này là rất lớn. Những kết quả bước đầu của doanh nghiệp trong nước cho thấy, năng lực tham gia sâu hơn vào ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi hoàn toàn khả thi nếu có cơ chế phù hợp.

Điển hình như Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) đã xuất khẩu 33 chân đế điện gió ngoài khơi quy mô lớn vào tháng 6/2025 và tham gia chế tạo 10 trạm biến áp ngoài khơi với tổng công suất khoảng 6GW trong vòng 5 năm qua. Đây là minh chứng cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ có khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu mà còn từng bước làm chủ nhiều công đoạn có hàm lượng kỹ thuật cao.

Quan trọng hơn, giá trị của các dự án không chỉ nằm ở doanh thu hay kim ngạch xuất khẩu mà còn góp phần hình thành năng lực công nghiệp quốc gia. Khi doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ công nghệ, Việt Nam sẽ giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tạo nền tảng để phát triển các dự án điện gió ngoài khơi trong nước với quy mô lớn hơn trong tương lai.

Theo TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Việt Nam hiện có 21 tỉnh, thành phố giáp biển, trong đó phần lớn đều có điều kiện gió thuận lợi để phát triển điện gió ngoài khơi. Với một dự án điện gió ngoài khơi công suất khoảng 500MW, tổng vốn đầu tư có thể lên tới gần 2 tỷ USD. Nếu nhiều địa phương đồng thời triển khai các dự án theo quy hoạch, lượng vốn đầu tư huy động sẽ rất lớn, tạo thêm nguồn lực cho phát triển hạ tầng, dịch vụ cảng biển, logistics, đào tạo nhân lực và các ngành công nghiệp hỗ trợ.

Không chỉ vậy, quá trình đầu tư còn tạo ra hàng chục nghìn việc làm có trình độ kỹ thuật cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động tại các địa phương ven biển theo hướng hiện đại. Đây là yếu tố quan trọng để phát huy lợi thế biển trong giai đoạn phát triển mới, thay vì chỉ khai thác các ngành kinh tế truyền thống.

Quốc gia nào chỉ mua turbine sẽ chỉ có điện. Quốc gia nào làm chủ chuỗi cung ứng sẽ sở hữu một ngành công nghiệp mới. Khác biệt nằm ở chỗ Việt Nam lựa chọn trở thành thị trường tiêu thụ hay trung tâm sản xuất của khu vực.