Khơi thông nguồn lực để tăng trưởng 2 con số

6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18%; quý III được dự báo có thể tăng 9,5-10%. Với đà tăng trưởng này, mục tiêu GDP cả năm 2026 tăng hơn 9% được đánh giá là khả thi. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và hướng tới mục tiêu 2 con số, Việt Nam cần khơi thông đồng thời nhiều nguồn lực của nền kinh tế.

Cùng với nâng cao hiệu quả kinh tế, Việt Nam cần thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững.
Cùng với nâng cao hiệu quả kinh tế, Việt Nam cần thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững.

Nhiều địa phương đang tạo ra một “guồng” phát triển mới

TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia cho hay, các tổ chức tài chính quốc tế lớn như Goldman Sachs và Morgan Stanley đang có những đánh giá tích cực về triển vọng kinh tế Việt Nam.

Theo ông, đây là thời điểm Việt Nam cần tận dụng cơ hội để tạo cú bứt phá mới. Những chuyển động tích cực tại các vùng kinh tế trọng điểm cùng quá trình chuyển mình của nhiều địa phương đang tạo ra một “guồng” phát triển mới, bổ sung động lực cho tăng trưởng. Đây cũng là cơ sở để ông cho rằng, mục tiêu GDP năm 2026 tăng hơn 9% hoàn toàn khả thi.

Ở góc nhìn về các động lực tăng trưởng, TS Chu Tuấn Linh, Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi (NTU), cho rằng, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao khả năng kết nối của nền kinh tế.

Theo ông, dư địa tăng trưởng vẫn còn lớn khi nhiều nguồn lực như khu vực tư nhân, thị trường vốn, đất đai, tri thức, dữ liệu và vốn FDI chưa được khai thác hết và có thể tiếp tục chuyển hóa thành năng lực sản xuất.

TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam, nhìn nhận tăng trưởng kinh tế có thể được thúc đẩy từ bốn cấu phần chính gồm tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu của Nhà nước và xuất khẩu ròng.

Thời gian qua, Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy các động lực này, từ kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp, đẩy mạnh đầu tư công đến mở rộng xuất khẩu, qua đó tạo những chuyển biến tích cực cho nền kinh tế.

Trong đó, đầu tư và xuất khẩu tiếp tục là những động lực quan trọng. Khu vực FDI cũng còn nhiều dư địa khi Việt Nam có thể tận dụng quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng, các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và lợi thế về lực lượng lao động để thu hút thêm nguồn lực, mở rộng năng lực sản xuất và xuất khẩu.

231.jpg
Xuất khẩu ròng là một trong các cấu phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ảnh: ANH QUÂN

Phải đổi cách tạo ra tăng trưởng

Dù vậy, TS Trần Xuân Lượng nhấn mạnh, phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn có quy mô nhỏ, năng lực tham gia công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế. Để dòng vốn FDI tạo sức lan tỏa lớn hơn, bên cạnh việc tiếp tục thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này, Việt Nam cần nâng năng lực sản xuất của doanh nghiệp nội địa, tăng liên kết giữa hai khu vực và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, nhất là các khâu có giá trị gia tăng cao.

Theo ông, hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào thiết kế mà còn nằm ở khâu thực thi. Chính sách hỗ trợ cần tính đến sự khác biệt về quy mô và năng lực của từng nhóm doanh nghiệp, qua đó nâng khả năng tiếp cận và thụ hưởng trên thực tế.

Đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, TS Trần Xuân Lượng cho rằng, đây là vấn đề đã được quan tâm nhưng cần tiếp tục nâng hiệu quả thực thi, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giảm áp lực chi phí mặt bằng sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực đầu tư máy móc, công nghệ và mở rộng sản xuất.

Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, dư địa của một số động lực tăng trưởng truyền thống đang thu hẹp, trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng phụ thuộc vào công nghệ, năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tham gia các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.

Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đòi hỏi tốc độ cao hơn mà còn đặt ra yêu cầu thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng. Nền kinh tế cần từng bước chuyển từ mô hình dựa nhiều vào gia tăng đầu vào sang dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bình quân trên 10% giai đoạn 2026-2030, ông Nguyễn Quốc Anh cho rằng cần cơ cấu lại đầu tư, hệ thống tài chính và khu vực doanh nghiệp, qua đó tạo nền tảng cho đổi mới mô hình tăng trưởng. Cùng với đó, cần phát huy mạnh hơn vai trò của khu vực tư nhân, nâng cao chất lượng dòng vốn FDI và tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.

5 nhóm giải pháp cho tăng trưởng cao và bền vững

TS Cấn Văn Lực cho rằng, Việt Nam cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp để tạo nền tảng cho tăng trưởng cao và bền vững.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế cho các động lực tăng trưởng mới. Các nghị quyết của Đảng, luật của Quốc hội và chương trình hành động của Chính phủ cần sớm được cụ thể hóa bằng chính sách và hành động thực tế. Mô hình tăng trưởng cần có độ mở và tính linh hoạt cao, vừa phát huy các động lực truyền thống, vừa tạo dư địa cho những động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh.

Thứ hai, khai thác đồng thời và hiệu quả các động lực tăng trưởng. Bên cạnh củng cố những động lực hiện hữu, Việt Nam cần đẩy mạnh các động lực mới để tạo thêm sức bật cho nền kinh tế và duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn.

Thứ ba, củng cố sự ổn định của các thị trường nền tảng. Theo TS Cấn Văn Lực, cần giữ ổn định tỷ giá, thị trường năng lượng và hệ thống tài chính. Chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt, hướng tới ổn định mặt bằng lãi suất, đồng thời có giải pháp giảm lãi suất phù hợp đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Thứ tư, chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng tăng trưởng. Việt Nam cần tiếp tục tái cơ cấu nền kinh tế, cải thiện năng suất lao động, nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực và kiểm soát hệ số ICOR. TS Cấn Văn Lực đặt mục tiêu đưa ICOR về khoảng 4 lần, đồng thời nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng lên trên 55%.

Cùng với nâng cao hiệu quả kinh tế, Việt Nam cần thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững; tăng năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời chủ động xử lý những vấn đề ngày càng rõ nét tại các đô thị như ngập úng, sụt lún.

Thứ năm, tăng cường bảo đảm an ninh trên 4 lĩnh vực: Năng lượng, lương thực, chuỗi cung ứng và an ninh mạng - dữ liệu. Trong đó, năng lượng được TS Cấn Văn Lực đặc biệt lưu ý. Theo ông, việc xây dựng dự trữ năng lượng quốc gia chưa theo kịp những biến động nhanh và phức tạp của tình hình địa chính trị toàn cầu.

“Chúng ta đang nỗ lực chuyển đổi năng lượng xanh, nhưng từ khi xảy ra xung đột đến nay đã nhiều tháng trôi qua mà chúng ta vẫn chưa có những động thái thật sự mạnh mẽ để tăng cường dự trữ năng lượng quốc gia”, ông Lực cảnh báo.

Có thể bạn quan tâm