Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH
Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Là lãnh đạo một đơn vị nghiên cứu, GS, TS Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc, hóa dầu, Phó Viện trưởng Hóa học Công nghiệp Việt Nam, từng trăn trở với bài toán làm thế nào để có nhiệm vụ, đề tài nghiên cứu. Ngay cả khi đã có nguồn lực từ ngân sách, việc triển khai và giải ngân cho các hoạt động nghiên cứu cũng không phải lúc nào thuận lợi.

Khi cơ chế tài chính chưa theo kịp đặc thù nghiên cứu

“Đặt đề bài cho nhà khoa học nhưng khi nhà khoa học đã trúng thầu, trong quá trình thực hiện lại kiểm soát rất chặt chẽ, quy định từng li từng tý, mọi đồng chi phí đều tuân theo, bó chặt vào đầu bài”, bà chia sẻ.

Vấn đề ở đây không chỉ là thủ tục hành chính nhiều hay ít. Cốt lõi là nghiên cứu khoa học có tính bất định cao, trong khi cơ chế tài chính lại dễ khiến quá trình nghiên cứu phải đi theo những phương án đã được xác định từ trước.

Một đề tài có thể phải trải qua nhiều lần thử nghiệm mới tìm được lời giải. Nhưng nếu mỗi sự thay đổi đều kéo theo yêu cầu điều chỉnh thủ tục, dự toán hay giải trình, nhà khoa học sẽ có xu hướng lựa chọn phương án ít rủi ro hơn.

Nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cho rằng, cách quản lý như vậy có thể khiến nhà khoa học ngại đưa ra những suy nghĩ, phương án mới và thường lựa chọn cách làm dễ thành công hơn. Nhưng những phương án an toàn ấy lại chưa chắc tạo ra sản phẩm mà xã hội và chính nhà khoa học mong muốn.

PGS, TS Phạm Thành Huy, Hiệu trưởng Trường đại học Phenikaa cho biết, các nhà khoa học phải dành nhiều thời gian cho công tác chi tiêu thay vì nghiên cứu khoa học. Từ thực tế đó, ông cho rằng, cần áp dụng triệt để phương thức khoán chi để đi đến sản phẩm cuối cùng.

Thực tế, cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng đã được đặt ra từ nhiều năm. Tuy nhiên, việc triển khai gặp khó khăn do hoạt động khoa học, công nghệ chịu sự chi phối của nhiều luật và quy định khác nhau.

Trong khi đó, yêu cầu đối với khoa học, công nghệ ngày càng lớn. Nếu một nhiệm vụ chỉ được đánh giá bằng việc hoàn thành đúng hồ sơ, đúng quy trình, đúng dự toán thì chưa thể bảo đảm tạo ra những kết quả có giá trị cao.

Đặc biệt, với những lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ chiến lược đòi hỏi những bài toán lớn, nguồn lực lớn, nhân lực chất lượng cao và khả năng chấp nhận rủi ro. Nếu cơ chế chỉ khuyến khích những phương án chắc chắn thành công, rất khó kỳ vọng những bước đột phá.

Dòng tiền đi theo kết quả

Nhằm tháo gỡ căn bản những vướng mắc trong cơ chế tài chính cho hoạt động nghiên cứu, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN.

Một trong những thay đổi đáng chú ý của thông tư này là cách tiếp cận mới đối với nguồn lực dành cho nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.

Theo ông Hà Minh Hiệp, Chánh Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ, những đổi mới về thể chế thời gian qua không chỉ tập trung vào đề tài, nhiệm vụ mà còn hướng tới phát triển cả hạ tầng phục vụ công nghệ chiến lược, bao gồm các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm.

Ở cấp độ cơ chế tài chính, Thông tư 49 đã cụ thể hóa nguyên tắc Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội.

Với nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng nhằm phát triển công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa đặc biệt đối với tự chủ công nghệ quốc gia, quốc phòng, an ninh hoặc có độ rủi ro cao, ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% kinh phí. Với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa, mức hỗ trợ tối đa là 70%; phần còn lại được huy động từ doanh nghiệp và các nguồn hợp pháp khác.

Đáng chú ý hơn cả là ba dịch chuyển trong cách quản lý nguồn lực. Quản lý từ đầu vào sang kết quả. Nhiệm vụ được chia thành các gói công việc (WP), gắn với sản phẩm, mốc đánh giá và kinh phí tương ứng.

Từ kiểm soát thủ tục sang quản trị theo mốc. Sau mỗi mốc đánh giá, cơ quan quản lý quyết định tiếp tục cấp kinh phí, điều chỉnh hoặc dừng nhiệm vụ.

Từ tiền kiểm sang tự chủ gắn với hậu kiểm, tổ chức chủ trì và nhóm nghiên cứu được trao quyền chủ động hơn, đi kèm trách nhiệm giải trình và quản trị rủi ro.

“Nếu đạt thì sẽ đi tiếp, còn nếu không đạt thì chắc phải dừng lại để xử lý, chứ không phải đợi đến cuối cùng mới đi đánh giá”, ông Hà Minh Hiệp cho biết.

Một bài toán công nghệ có thể được triển khai theo nhiều phương án độc lập. Sau mỗi mốc đánh giá, phương án tốt được tiếp tục đầu tư, phương án không hiệu quả có thể điều chỉnh hoặc dừng. Cùng với đó, nhiệm vụ được bố trí 10% kinh phí dự phòng từ tổng kinh phí ngân sách nhà nước để ứng phó với những thay đổi không lường trước trong quá trình triển khai, nhất là với những dự án kéo dài nhiều năm.

Theo ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, cơ chế mới chấp nhận rủi ro khách quan vốn có của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kể cả trường hợp một phương án không đạt kết quả dự kiến. “Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc chấp nhận sai phạm trong quản lý và sử dụng nguồn lực. Tự chủ vì vậy phải đi cùng trách nhiệm. Các nhiệm vụ được theo dõi trên nền tảng số quốc gia; đơn vị chủ trì có trách nhiệm cập nhật tình hình, kết quả thực hiện, giúp cơ quan quản lý theo dõi quá trình triển khai và khả năng thực hiện nhiệm vụ”, ông Chiến nhấn mạnh.

Đáng chú ý, Thông tư 49 cũng dành một cơ chế đặc biệt cho nhân lực tham gia các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. Mức thù lao được xác định theo vị trí, trách nhiệm, sản phẩm đầu ra và thời gian tham gia. Trần thù lao đối với Tổng công trình sư lên tới 300 triệu đồng/tháng; chủ nhiệm nhiệm vụ 150 triệu đồng/tháng. Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán, không phải mức chi mặc nhiên cho mọi nhiệm vụ.

Cùng với đội ngũ nghiên cứu thường xuyên, nhiệm vụ còn có thể thuê chuyên gia trong nước và quốc tế theo cơ chế thỏa thuận, căn cứ yêu cầu chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, thời gian tham gia, mặt bằng giá thị trường và thông lệ quốc tế.

Cơ chế tài chính mới bước đầu đã được đón nhận tích cực. Hiệu quả thể hiện qua con số 2.000 hồ sơ đăng ký ngay trong đợt kêu gọi tài trợ các loại hình nhiệm vụ khoa học và công nghệ lần 1 năm 2026 của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia.

“Sự tham gia của doanh nghiệp cũng gia tăng, cả ở hình thức đối ứng và trực tiếp chủ trì nhiệm vụ cho thấy nguồn lực và nhu cầu nghiên cứu trong xã hội rất lớn. Vấn đề là phải có cơ chế đủ linh hoạt để nguồn lực tập trung vào đúng những lĩnh vực mà đất nước cần”, ông Hiệp nói.

Có thể bạn quan tâm