Coọc Mu ngày ấy và bây giờ

Từng là “ốc đảo” bị lãng quên giữa đại ngàn, nơi ấy hơn 20 năm về trước, hàng chục số phận bị căn bệnh phong quái ác hành hạ, thôn Coọc Mu, xã Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn cũ), nay là xã Đồng Phúc (tỉnh Thái Nguyên) đã hồi sinh.

Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.
Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.

Dẫu di chứng bệnh phong vẫn hiện hữu trên đôi tay, đôi mắt của những người già nhưng bóng tối của sự kỳ thị và khốn khó đã lùi xa. Thay vào đó là nhịp sống rộn rã, mang theo no ấm và hạnh phúc tràn ngập tiếng cười trong mỗi nếp nhà.

Ký ức buồn nơi ốc đảo

Coọc Mu vào một ngày đầu đông, cái lạnh vùng cao bắt đầu len lỏi qua từng nếp áo. Rét như vạn mũi kim châm vào da thịt. Từ dưới chân núi, hướng mắt nhìn lên, Coọc Mu như một bức tranh thủy mặc, mờ ảo, bảng lảng dưới làn sương giăng kín lối. Thế nhưng, đằng sau vẻ đẹp trầm mặc ấy là cả một miền ký ức đau thương: Thôn “hủi" vốn đã hằn sâu trong tâm khảm người dân nơi đây hơn 20 năm về trước. Ngay cái tên thôn thôi cũng đã nặng nề khi theo tiếng dân tộc Tày nghĩa là “Chuồng lợn”.

Dù chỉ cách trung tâm xã vỏn vẹn một quả đồi, nhưng Coọc Mu tựa như một ốc đảo, mọi hoạt động tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Thời ấy, bệnh phong “hủi” bị coi là một căn bệnh nan y đáng sợ. Những hình hài dị dạng vì bệnh tật đã đẩy 12 con người ở Coọc Mu vào cảnh ngộ bị người đời xa lánh, người lành lặn trong bản cũng chịu sự kỳ thị ghê gớm. Có người bệnh nặng phải vào rừng dựng lán ở riêng biệt, lâu lâu người thân mang đồ đạc đến tiếp tế nhưng cũng chỉ dám đứng từ xa, đợi cho người thân đi khuất mới dám ra lấy đồ.

Lâu rồi, không còn muốn nhớ lại những ngày định mệnh khổ đau ấy, nhưng khi có người nhắc đến, mọi thứ như hiện về trong trí nhớ của ông Triệu Khải Tiến. Hồi ấy, ba anh chị em ông Tiến đều bị bệnh phong, ai cũng khiếp sợ và xa lánh, kỳ thị. Trong ngôi nhà lụp xụp, tạm bợ, một góc u tối là nơi ông Tiến ăn, ở sinh hoạt... Giờ đây ngôi nhà của ông đã được các con dựng mới, rộng rãi, sạch sẽ.

Bên bếp lửa hồng, người đàn ông gần 70 tuổi, đôi mắt lim dim tưởng chừng đang nhìn ra ngoài cửa, ngắm mây, hưởng gió, thế nhưng, trong thực tế tất cả chỉ là một màn đêm tăm tối. Căn bệnh phong quái ác đã cướp đi cả hai mắt của ông. May mắn, ông Tiến có người vợ yêu thương cùng đi qua những năm tháng khốn khó. Những đứa con sinh ra đều khỏe mạnh, trong mắt nhiều người lúc ấy mới bớt suy nghĩ tiêu cực về bệnh phong. “Ở nơi rừng thiêng nước độc, khi đón những đứa con, việc đầu tiên là kiểm tra tay, chân, mắt của con. Thấy con khỏe mạnh, không bị dị tật tôi mừng rưng rưng vì hạnh phúc”, ông Tiến bùi ngùi kể.

May mắn hơn ông Triệu Khải Tiến, mặc dù tay, chân cụt ngón, vận động khó khăn nhưng ông Triệu Khải Quý vẫn còn đôi mắt. Ông Quý không muốn nhớ nhưng cũng không thể nào quên thời điểm khoảng năm 1991, trong thôn phát hiện một người mắc bệnh lạ, ngón chân, ngón tay lở loét, cụt dần. Sau đó cán bộ y tế chẩn đoán là bệnh phong, cả làng chịu nỗi ám ảnh, lo sợ. Thế rồi một ngày, tai họa ấy ập đến với ông, mọi thứ như sụp đổ khi ông Quý còn chưa đầy 40 tuổi đời. Tinh thần suy sụp, người nhà tìm thuốc, thầy mo, cúng đủ kiểu bệnh cũng không khỏi... Cái cảm giác ngứa ngáy, tứ chi co quắp, lở loét cụt ngón tay, ngón chân, phải co ro một góc nhỏ trong căn nhà tạm bợ là những ký ức hằn sâu, cứa vào tâm hồn, thể xác ông Quý.

Chị Hoàng Thị Phương, con dâu ông Tiến nhớ lại, khi chị quyết định xây dựng gia đình với con trai ông Tiến, người nhà cũng lo ngại, bạn bè khuyên can nhiều lắm. Có người bảo, bao người không lấy lại chọn con trai của người bị hủi, không biết sợ à? Chị vẫn quyết định cưới. Chị Phương là người con gái lanh lợi, hoạt bát, am hiểu. Trong suy nghĩ của chị, bệnh phong hay bệnh gì nếu biết cách phòng thì sẽ an toàn. Đám cưới của chị cũng ít người dám đến chúc mừng, chủ yếu người thân trong gia đình. Niềm an ủi với chị là người chồng luôn động viên tinh thần và cùng sinh ra những đứa con khỏe mạnh, mọi định kiến đều vượt qua.

Ông Ma Văn Chấn, nguyên Bí thư Đảng ủy xã kể lại, Coọc Mu thời kỳ đó khốn khó, mịt mù, cuộc sống đã khó khăn lại có nhiều người mắc bệnh phong, có hộ đói đứt bữa đến nửa năm trời. Nhiều phụ huynh trong thôn không muốn con em của những người mắc bệnh phong đến lớp vì sợ lây bệnh sang con cháu của họ. Phải mất một thời gian căng thẳng, đến khi các y, bác sĩ Trung tâm phòng chống bệnh xã hội đến tuyên truyền, chữa trị, thực hiện ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng lao động sản xuất) để chứng minh bệnh phong có thể chữa khỏi và không dễ lây thì mọi thứ mới thay đổi. Năm 2003, bệnh phong được loại trừ hoàn toàn, Coọc Mu lần đầu tiên đón sự bình yên sau vài chục năm chìm trong ghẻ lạnh.

52.jpg
Đường lên thôn Coọc Mu.

Bình yên trở lại

Bệnh tật được loại trừ, cuộc sống của người dân thôn Coọc Mu dần ổn định trở lại, nhận thức của người dân thay đổi. Người mắc bệnh phong sau khi khỏi bệnh nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng, xóm làng, đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế. Nhiều hộ trước kia là bệnh nhân phong mạnh dạn vay vốn ngân hàng để đầu tư phát triển kinh tế, mua trâu bò, dê về chăn thả. Nhiều hộ xóa dần cảnh nghèo, đói đứt bữa lương thực, mua được xe máy làm phương tiện đi lại, ti-vi để nắm bắt thông tin xã hội, học hỏi làm ăn, sắm điện thoại để liên lạc với người thân...

Đồng hành cùng người dân vượt qua khó khăn là sự quan tâm đầu tư của chính quyền địa phương. Con đường mòn men theo sườn núi để vào thôn trước kia phải đi bộ mất hơn hai giờ đồng hồ, năm 2006, từ nguồn kinh phí Chương trình 135, đã được đầu tư mở rộng, trải bê-tông sạch sẽ. Có đường, sản phẩm nông, lâm nghiệp của người dân làm ra có tư thương vào tận nơi thu mua, xóa bỏ cảnh tự cung tự cấp, người dân có của ăn, của để. Những căn nhà tranh tre tạm bợ được thay bằng nhà xây, nhà gỗ kiên cố, vững chắc; điện lưới quốc gia thắp sáng đến từng hộ dân; công trình nước sinh hoạt hợp vệ sinh được đầu tư, từng hộ dẫn nước vào tận nhà...

Theo Bí thư Chi bộ thôn Coọc Mu Đặng Văn Bình, toàn thôn hiện nay có 44 hộ, 100% là đồng bào Dao. Các ban, chi hội, chi đoàn của thôn hoạt động nền nếp, hiệu quả, phối hợp tốt với lãnh đạo thôn thực hiện nhiệm vụ, có trách nhiệm với người dân, hội viên của mình. Thôn không có các loại tệ nạn xã hội, không có trộm cắp, an ninh trật tự luôn ổn định. Tổng kết năm 2025, tất cả các hộ đều đạt gia đình văn hóa.

Bên bếp lửa hồng, ông Triệu Khải Tiến nở nụ cười mãn nguyện: “Cuộc sống giờ khá hơn rồi, các con có gia đình, có cháu lớn hết rồi. Thương bố đôi mắt bị hỏng, các con bảo nhau cố gắng lao động sản xuất. Tôi vui, hạnh phúc sống bên con cháu”. Ai cũng hiểu để nói được một từ “vui” ấy, ông Tiến đã phải trải qua vài chục năm sống trong ghẻ lạnh tinh thần và chịu nỗi đau thể xác. Có lẽ không ai thấm thía và quý giá sự bình yên trở lại ở Coọc Mu như ông Tiến và những người đã từng bị bệnh phong ở nơi này.

Coọc Mu đang từng ngày khởi sắc. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hôm nay đã có con đường bê-tông vào đến thôn; điểm trường mẫu giáo, tiểu học, nhà sinh hoạt cộng đồng được xây dựng kiên cố, khang trang, sạch đẹp. Những mảnh vườn bỏ hoang trước đây giờ đã được phủ xanh bởi rau màu, vườn cây lâm nghiệp phát triển tốt tươi... Những ngôi nhà gỗ, nhà xây mọc lên một phần từ hỗ trợ của chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát của Nhà nước, một phần từ sự chủ động của người dân khi họ chịu khó sản xuất, chăn nuôi phát triển kinh tế, đi làm việc tại các công ty trong, ngoài tỉnh. Người chịu di chứng bệnh phong được động viên, hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần. Trước đây người dân Coọc Mu bị kỳ thị, xa lánh thì nay tình làng, nghĩa xóm gắn bó. Người già bị dị tật do bệnh phong để lại không còn cô đơn, được đối xử bình đẳng như bao người khác.

Chúng tôi chia tay Coọc Mu khi nắng chiều đã nhạt dần. Cổng chào trước thôn vững chãi với dòng chữ: Khu dân cư thôn Coọc Mu Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công. Trên những nếp nhà gỗ kiên cố, đâu đó tiếng hát mượt mà của thiếu nữ dân tộc Dao vọng về, những trẻ thơ nô đùa vui vẻ. Coọc Mu hôm nay không còn là cái tên gợi lên sự sợ hãi hay xa lánh "làng hủi" năm nào. Nỗi đau đã lùi vào quá khứ, một chương mới ấm no, hạnh phúc đang thật sự bắt đầu. Thứ quý giá nhất đã hồi sinh ở Coọc Mu chính là tình người và lòng tin vào Đảng, Nhà nước thắp sáng tương lai.