Anh Phạm Thanh Lâm, người dân TP Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình), vẫn nhớ những lần đi làm thủ tục đất đai cách đây vài năm. Mỗi lần như vậy, anh phải chuẩn bị một tập hồ sơ giấy dày cộp, xếp hàng từ sáng sớm tại Văn phòng Đăng ký đất đai. Có hôm, riêng khâu tiếp nhận hồ sơ đã mất gần 20 phút, chưa kể thời gian đi lại và bổ sung giấy tờ nếu có sai sót. Thế nhưng, trong lần làm thủ tục gần đây, trải nghiệm ấy đã thay đổi. Hồ sơ được anh scan và gửi trực tuyến từ trước. Khi đến cơ quan tiếp nhận, cán bộ chỉ cần mở hồ sơ điện tử trên hệ thống, đối chiếu với bản giấy và xử lý ngay.
Với người dân, những thay đổi như vậy không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, công sức mà còn tạo cảm giác minh bạch, yên tâm hơn.
Những bước tiến từ dịch vụ công
Sau hơn 5 năm triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam đã hình thành những nền móng quan trọng cho chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Từ hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, bảo hiểm, doanh nghiệp đến các nền tảng dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng định danh điện tử VNeID, quá trình số hóa đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, cung ứng dịch vụ công và tương tác giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, đến cuối năm 2024, Việt Nam đã cung cấp hơn 4.000 dịch vụ công trực tuyến toàn trình; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đạt hơn 70%. Riêng trong lĩnh vực đăng ký cư trú, cấp căn cước công dân, bảo hiểm xã hội, thời gian giải quyết thủ tục đã rút ngắn từ vài ngày xuống còn vài phút, thậm chí vài thao tác trên điện thoại thông minh.
Với người dân đô thị, đặc biệt tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, chuyển đổi số đã mang lại những thay đổi rõ nét. Các nền tảng như “Đà Nẵng Smart City”, “Hue-S” hay Cổng Dịch vụ công Thành phố Hồ Chí Minh cho phép người dân nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ, phản ánh kiến nghị trực tuyến, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, giảm chi phí đi lại và thời gian chờ đợi. Báo cáo năm 2023 của World Bank (WB) cho thấy, tại Hà Nội, gần 90% người dân đã từng sử dụng ít nhất một dịch vụ hành chính công trực tuyến, một tỷ lệ tiệm cận với nhiều thành phố trong khu vực.
Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số giúp giảm đáng kể chi phí tuân thủ. Việc khai thuế điện tử, hóa đơn điện tử, đăng ký kinh doanh trực tuyến đã tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xã hội mỗi năm. Theo ước tính của Tổng cục Thuế, riêng việc áp dụng hóa đơn điện tử đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 1.000-1.200 tỷ đồng/năm so với hóa đơn giấy.
Trong lĩnh vực kinh tế số, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường phát triển nhanh nhất Đông Nam Á. Báo cáo e-Conomy SEA 2024 của Google, Temasek và Bain & Company cho biết, quy mô nền kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 30 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng hai con số. Điều này tạo thêm không gian phát triển mới cho doanh nghiệp công nghệ, logistics, thương mại điện tử, tài chính số, đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn cho người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn.
Ở góc độ nhận thức quản lý, PGS, TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách tiếp cận quản lý phát triển kinh tế - xã hội.
“Từ quản lý theo quy trình tuyến tính sang quản lý dựa trên nền tảng số, dữ liệu lớn và mô hình dự báo, không gian và thời gian trong quản lý được “nén lại”, tạo điều kiện cho việc ra quyết định gần với thực tiễn hơn, giảm độ trễ chính sách”, PGS, TS Nguyễn Thường Lạng nhìn nhận.
Khoảng cách số và trải nghiệm chưa đồng đều
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ thụ hưởng là người dân và doanh nghiệp thì chuyển đổi số ở nước ta vẫn đang đứng trước nhiều “điểm nghẽn” về thể chế, năng lực thực thi, kỹ năng số, khoảng cách tiếp cận và niềm tin số.
Theo WB, năm 2023, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở khu vực miền núi phía bắc chỉ đạt khoảng 35%, trong khi tại Hà Nội gần 90%. Khoảng cách này cho thấy hạn chế về kỹ năng số, khả năng tiếp cận thiết bị và niềm tin vào dịch vụ số.
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, tại một số địa phương, hồ sơ trợ cấp xã hội vẫn phải xử lý thủ công, dữ liệu chưa liên thông giữa các ngành y tế, lao động, bảo hiểm. Người dân, nhất là nhóm yếu thế, vẫn phải "chạy" giấy tờ, bổ sung hồ sơ nhiều lần, làm giảm ý nghĩa của chuyển đổi số vốn hướng tới phục vụ.
Đáng chú ý, theo Bộ Nội vụ (2024), chỉ khoảng 30% số công chức cấp xã sử dụng thành thạo các nền tảng quản lý hành chính. Điều này khiến nhiều dịch vụ công trực tuyến “có mà chưa thông”, người dân nộp hồ sơ trực tuyến nhưng vẫn phải bổ sung giấy tờ trực tiếp, làm giảm trải nghiệm và niềm tin.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ, thách thức lớn nhất hiện nay là thiếu khung pháp lý đồng bộ về dữ liệu và chuyển đổi số. Việc chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương còn hạn chế, khiến doanh nghiệp khó phát triển các sản phẩm, dịch vụ số trong lĩnh vực xã hội như y tế, giáo dục, an sinh.
GS, TS Đặng Nguyên Anh cho rằng, nếu không ban hành Luật Chuyển đổi số với các quy định rõ ràng về quản lý, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu, Việt Nam sẽ khó hình thành hệ sinh thái số mở, nơi doanh nghiệp có thể tham gia sâu vào cung ứng dịch vụ công và dịch vụ xã hội.
Bên cạnh đó, rủi ro an ninh mạng đang trở thành thách thức trực diện. Theo Kiểm toán Nhà nước, riêng năm 2023 ghi nhận gần 13.900 vụ tấn công mạng, gây thiệt hại ước tính khoảng 18.900 tỷ đồng. Các vụ lừa đảo trực tuyến, đánh cắp dữ liệu cá nhân làm suy giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào môi trường số - một yếu tố then chốt của quản trị xã hội số.
PGS, TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, so với Hàn Quốc, Singapore hay Estonia, khoảng cách của Việt Nam không nằm ở mức độ tiếp cận công nghệ, mà chủ yếu ở thể chế và năng lực quản trị. Kinh nghiệm cho thấy, chuyển đổi số thành công đòi hỏi sự đồng bộ giữa công nghệ, thể chế và con người, điều mà Việt Nam đang từng bước xây dựng nhưng chưa hoàn thiện.