Bài toán nguồn nước ở Trung Đông

Trong nhiều thế kỷ qua, Trung Đông luôn thiếu nước ngọt. Sự ra đời của hệ thống nhà máy khử mặn ở Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Oman… đã phần nào xử lý điều đó. Cùng với dầu mỏ, nước ngọt là “chìa khóa sự sống” ở khu vực này.

Các quốc gia Trung Đông nỗ lực biến nước biển thành nước ngọt. Ảnh: AP
Các quốc gia Trung Đông nỗ lực biến nước biển thành nước ngọt. Ảnh: AP

Biến nước biển thành nước ngọt

Trung Đông thường được nhắc tới như là vùng đất của những cường quốc dầu mỏ. Nhưng dưới góc độ địa lý, khu vực này còn được biết tới như là những “vương quốc nước mặn”, nơi mà cuộc tìm kiếm nước ngọt luôn là vấn đề sống còn suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử.

Trong thế kỷ 20, cách mạng công nghiệp, sự gia tăng dân số, nhiệt độ Trái đất tăng cao cùng tình trạng hạn hán càng khiến mọi thứ trở nên trầm trọng. Theo Hãng thông tấn Anadolu, Trung Đông chiếm khoảng 6% dân số thế giới nhưng chỉ sở hữu 2% lượng nước ngọt tái tạo (nước ngọt tự nhiên, được cung cấp liên tục qua quá trình tuần hoàn của nước) trên thế giới; khoảng 83% lãnh thổ Trung Đông đang đối mặt tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng.

Đối mặt với thực tế ấy, giải pháp của các quốc gia Trung Đông là xây dựng hệ thống nhà máy khử mặn, sản xuất nước ngọt nhân tạo từ nước biển. Nhiều báo cáo khác nhau đều đồng quan điểm cho rằng, khu vực Trung Đông và Bắc Phi chiếm khoảng 60% công suất khử mặn toàn cầu. Trong khoảng 18.000 nhà máy khử mặn thương mại đang vận hành trên thế giới, khu vực này sở hữu hơn 5.000 nhà máy và đó là những nhà máy lớn nhất, hiện đại nhất, có công nghệ cao nhất, sản xuất 28,96 triệu m3 nước mỗi ngày. Quốc gia lớn nhất khu vực Saudi Arabia đứng đầu thế giới trong lĩnh vực này, chiếm 25% công suất nước khử mặn toàn cầu.

Tuy nhiên, đó chưa phải điểm dừng. Các nước trong khu vực đã lên kế hoạch tăng gấp đôi công suất sản xuất nước ngọt ngay giai đoạn 2024-2028. Họ đã ký các hợp đồng xây dựng, vận hành nhà máy mới, cung cấp thêm 20,9 triệu m3 nước mỗi ngày.

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng khử mặn của khu vực cũng tăng mạnh. Từ năm 2006 tới 2024, những “đế chế dầu mỏ” này đã đầu tư hơn 53 tỷ USD, chiếm gần một nửa tổng chi toàn cầu cho hoạt động khử mặn nước biển. Tổng mức đầu tư của Trung Đông cho hoạt động này sẽ sớm đạt mốc 100 tỷ USD vào năm 2030, phản ánh nhu cầu nước sạch cực lớn của khu vực nói riêng và toàn cầu nói chung.

Có tới 8 trong 10 nhà máy khử mặn lớn nhất thế giới đang nằm trên bán đảo Arab. Hai nhà máy nằm ở Sorek, phía tây Israel và vẫn thuộc Trung Đông. Nếu không có hệ thống khổng lồ ấy, khoảng 100 triệu người ở vùng Vịnh gần như không thể tiếp cận nước ngọt, nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của Saudi Arabia, Qatar, UAE hay Kuwait sẽ trở nên hoang vắng, bao gồm cả Thủ đô Riyadh của Saudi Arabia.

Đi sâu vào từng quốc gia, các con số còn gây kinh ngạc hơn khi có tới 90% nước uống của người dân Kuwait tới từ hệ thống nhà máy khử mặn. Với Oman, 86% lượng nước sinh hoạt cũng tới từ các nhà máy. Con số tương tự của Saudi Arabia là 70%. Bahrain, Qatar, UAE cũng vậy. Israel có đường bờ biển trải dài giáp Địa Trung Hải và là nước đi đầu trong công nghệ này ở Trung Đông, chiếm 3% thị phần toàn cầu. Chiều ngược lại, nguồn nước sạch chủ yếu của Iran vẫn tới từ các sông hồ truyền thống. Dù vậy, họ cũng đang phải xây thêm các nhà máy khử mặn do hạn hán nghiêm trọng kéo dài suốt 5 năm qua.

Bài toán về nguồn nước của Trung Đông càng trở nên căng thẳng bởi nguồn nước ngọt ấy không chỉ phục vụ dân sinh. Nông nghiệp mới là ngành tiêu tốn nước nhiều nhất khi chiếm khoảng 70% tổng lượng nước hằng ngày, do nhiều vùng Trung Đông vẫn đang sử dụng các phương pháp tưới tiêu truyền thống, cần hàng trăm triệu lít nước mỗi ngày. Đó là chưa kể nguồn nước cho công nghiệp, dịch vụ, vốn đã được các nước Trung Đông kiểm soát rất chặt chẽ và cố gắng sử dụng hiệu quả nhất.

152.jpg
Các nhà máy khử mặn của Saudi Arabia dọc bờ biển vùng Vịnh. Ảnh: AFP

Nỗ lực và thách thức

Bất chấp rất nhiều nỗ lực, Saudi Arabia và các quốc gia trong khu vực vẫn đối mặt hàng loạt thách thức trong quá trình biến nước biển thành nước ngọt. Đầu tiên là vấn đề nguồn lực, việc khử mặn nước biển đòi hỏi chi phí lớn cùng nguồn năng lượng khổng lồ. Dữ liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho thấy, hai phần ba lượng nước được khử mặn ở Trung Đông là kết quả của những công nghệ sử dụng nhiên liệu hóa thạch, một phần ba còn lại thông qua quá trình khử mặn bằng màng lọc.

Nhiều nhà nghiên cứu đã nỗ lực để quá trình khử mặn trở nên tiết kiệm, dễ tiếp cận, hiệu quả và bảo vệ môi trường hơn. Tăng cường sử dụng màng lọc, kéo dài tuổi thọ hệ thống khử mặn cùng tìm giải pháp xử lý nước thải mặn nồng độ cao là một số biện pháp đang được tiến hành. Năm 2021, Saudi Arabia đã hợp tác với Công ty Solar Water Plc (Anh) để xây dựng nhà máy khử mặn dùng năng lượng mặt trời, hướng tới mục tiêu chuyển từ dùng nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch, không phát thải carbon.

Thách thức thứ hai tới từ tình trạng bất ổn chính trị. Trung Đông vẫn là khu vực có nhiều biến động chính trị, xung đột vũ trang trong các thập kỷ qua và cả hiện nay. Giữa bối cảnh ấy, hệ thống nhà máy khử mặn, vốn được bảo vệ ít hơn nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng, trở thành các mục tiêu dễ bị tổn thương. Nhiều nước Trung Đông chọn đầu tư tập trung vào “vài chục nhà máy quy mô lớn, công nghệ cao”, càng tạo ra nguy cơ lớn hơn.

Vẫn theo Hãng thông tấn Anadolu, một bức điện tín ngoại giao của Mỹ hồi năm 2008 từng nói về khả năng người dân ở Thủ đô Riyadh (Saudi Arabia) sẽ phải sơ tán trong một tuần nếu các nhà máy khử mặn quan trọng bị tấn công. Thiếu nước dẫn tới mất điện diện rộng, nông nghiệp sụp đổ, giá cả tăng vọt, lạm phát và khủng hoảng toàn diện đến chỉ sau vài tuần.

Các nhà phân tích địa - chính trị đều đồng quan điểm cho rằng, những cuộc tấn công có hệ thống vào hạ tầng nước là đủ để gây áp lực lớn lên các chính phủ Trung Đông. Đối phương không hề cần một cuộc chiến tranh toàn diện để tạo nên khủng hoảng trong khu vực.

Lịch sử khu vực từng chứng kiến các cuộc tấn công kiểu đó nhắm vào hệ thống khử mặn. Theo The Conversation, trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, phía Iraq đã thả nhiều thùng dầu thô xuống vịnh Ba Tư, tạo thành vệt dầu loang khổng lồ trôi về phía nam. Các quan chức Saudi Arabia và giới chuyên gia Mỹ cho rằng đấy là hành động phá hoại có hệ thống các nhà máy khử mặn. Họ lập tức phải lắp đặt khẩn hệ thống phao bảo vệ, che chắn cho những van nước nhà máy.

Tại Kuwait, hành động của người Iraq cũng lập tức gây hư hại lớn cho hệ thống sản xuất nước. Kuwait khi đó đã phải nhờ Thổ Nhĩ Kỳ và Saudi Arabia viện trợ khẩn cấp hàng trăm xe bồn, xe tải cùng những lô hàng nước đóng chai. Quá trình hồi phục sau đó cũng phải diễn ra trong nhiều năm.

Đối mặt với những thách thức, đổi mới về công nghệ vẫn là con đường an toàn và dài hạn cho các quốc gia Trung Đông. Trong đó, việc sử dụng năng lượng mặt trời và điện gió cho công nghiệp lọc nước trở thành một giải pháp. Tuy nhiên, nó đều đòi hỏi hệ thống hạ tầng khổng lồ, cần nhiều thập kỷ hoàn thiện. Và cũng giống như hệ thống hạ tầng nước, các cơ sở năng lượng này hoàn toàn có thể trở thành mục tiêu bị tấn công trong các cuộc chiến, vì nguồn nước vẫn sẽ là vấn đề “sống còn” ở Trung Đông.