Thực thể quyền lực trên thị trường dầu mỏ

Ra đời năm 1960, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), hiện nay gồm các đối tác (OPEC+), là thực thể quyền lực số một trên bản đồ dầu mỏ nói riêng và năng lượng thế giới nói chung. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đang ngày càng “quay lưng” với loại nhiên liệu hóa thạch này nhằm hướng tới phát triển kinh tế xanh và bền vững.

OPEC hiện là thực thể quyền lực nhất thế giới về dầu mỏ. Ảnh: GETTYIMAGES
OPEC hiện là thực thể quyền lực nhất thế giới về dầu mỏ. Ảnh: GETTYIMAGES

“Vũ khí dầu mỏ”

“Vàng đen”, hay còn được giới chuyên gia ví von là “Máu của nền kinh tế toàn cầu”, là hai biệt danh của dầu mỏ - thứ tài nguyên năng lượng quan trọng nhất chiếm hơn 30% nguồn cung năng lượng toàn cầu. Vai trò quá lớn của dầu mỏ với kinh tế thế giới đã dẫn tới sự ra đời của nhiều tổ chức, mà nổi tiếng và quyền lực nhất ngày nay là OPEC.

Dầu mỏ là một nhiên liệu hóa thạch, được sử dụng từ thời cổ đại và bắt đầu ứng dụng nhiều hơn trong công nghiệp từ khoảng giữa thế kỷ 19. Sang thế kỷ 20, nguồn cung ngày càng mở rộng nhờ sự xuất hiện của các nhà đầu tư cá nhân ở Mỹ, cũng như việc tìm ra hàng loạt mỏ dầu mới tại các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là Trung Đông. Tình trạng sản xuất tự do khiến nguồn cung tăng lên, làm hạ giá thành.

Theo trang tin TLDR News Global, các tập đoàn lớn nhanh chóng nhận ra điều đó sẽ làm giảm lợi nhuận của mình. Cùng với nhau, họ lập nên một liên minh, sau này được gọi là nhóm “Bảy chị em”, gồm những công ty đa quốc gia chủ yếu từ Anh và Mỹ. Trong nhiều thập kỷ, họ đã kiểm soát sản lượng, khống chế giá dầu để thu về lợi nhuận tối đa. Tổ chức này đã tài trợ cho nhiều hoạt động quân sự, thậm chí góp phần gây tan rã chính phủ một số quốc gia có quan điểm khai thác dầu mỏ đi ngược lại với quyền lợi của họ.

Thế độc quyền ấy khiến nhiều nước không hài lòng. Tháng 9/1960, một hội nghị được tổ chức ở Baghdad (Iraq) với đại diện từ các nước Iran, Iraq, Kuwait, Saudi Arabia và Venezuela. Bất chấp phản đối từ Mỹ, họ đã cùng nhau thành lập Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC). Đây được xem như tổ chức đại diện cho các nước sản xuất dầu mỏ.

Từng bước, họ đã tạo ra một thực thể đủ sức cạnh tranh với Mỹ và phương Tây trong cuộc chiến năng lượng. Trong thập niên 1960 và 1970, nhiều quốc gia thành viên OPEC đã quốc hữu hóa các công ty dầu mỏ nước ngoài, đưa chúng về quyền kiểm soát của chính quyền trong nước. Họ cũng tiếp tục thu nạp thêm Qatar, Indonesia, Libya, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE)... và nhiều nước khác vào tổ chức của mình. Đầu thập niên 1970, OPEC đã chiếm hơn một nửa sản lượng dầu mỏ toàn cầu.

Quyền lực của tổ chức này thật sự được chứng minh qua cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Phản ứng với Chiến tranh Arab - Israel năm 1973, nhiều thành viên OPEC đã phong tỏa xuất khẩu dầu mỏ sang Mỹ và những nước phương Tây ủng hộ Israel, từ đó đẩy cao giá dầu, gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1973. Sự kiện này đã chứng minh sức mạnh của “vũ khí dầu mỏ”, tạo điều kiện để các nước OPEC tiếp tục quốc hữu hóa hoàn toàn nền dầu mỏ trong nước. Họ có vai trò lớn trong việc định giá dầu mỏ toàn cầu, từ đó có quyền lực chính trị lớn so những nước tiêu thụ, thường là các quốc gia phương Tây giàu có hơn.

OPEC ngày nay có 12 thành viên chính thức (sau khi Angola rời khỏi tổ chức vào đầu năm 2024) chủ yếu từ Trung Đông và châu Phi. Họ đang nắm giữ hơn 70% trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh của thế giới. Những thành viên chủ chốt của tổ chức là Saudi Arabia, UAE, Iraq, Iran và Kuwait.

152.jpg
Năng lượng tái tạo nhằm mục tiêu giảm sự phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch. Ảnh: EVENTURE

Tìm kiếm nguồn năng lượng sạch

Tuy nhiên, OPEC cũng có những vấn đề riêng. Thứ nhất, OPEC thường có những bất đồng nội bộ vì mỗi quốc gia lại có sản lượng dầu mỏ, chi phí sản xuất, đặc điểm địa chất, dân số, kinh tế và tình hình ngân sách rất khác nhau. Họ thường xuyên tranh luận về sản lượng và giá thành dầu mỏ. Dầu thô vừa là tài nguyên, “vũ khí” quan trọng nhưng cũng là nguyên nhân có thể dẫn tới bất ổn chính trị trong nước, điều mà các nhà kinh tế học gọi là “Lời nguyền tài nguyên thiên nhiên”.

Lịch sử OPEC đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột vũ trang, gây ảnh hưởng tới tình hình sản xuất và giá cả dầu mỏ như Cuộc chiến Yom Kippur (1973), Cách mạng Hồi giáo Iran (1979), các sự kiện “Mùa xuân Arab” (đầu thập niên 2010)... Những sự kiện này đều cho thấy tính bất ổn của OPEC, hạn chế hiệu quả hoạt động của tổ chức này. Ngoài ra, để hạn chế sự phụ thuộc vào năng lượng dầu mỏ, thế giới buộc phải tìm kiếm các tài nguyên mới như than đá, dầu đá phiến và gần đây là các loại năng lượng tái tạo.

Tại Mỹ, trữ lượng dầu đá phiến là rất lớn và bắt đầu được đẩy mạnh khai thác trong thời gian qua. Các quốc gia cũng tiếp tục đầu tư vào công nghệ điện hạt nhân. Thay vì mô hình lò phản ứng hạt nhân lớn trong quá khứ, họ phát triển các lò phản ứng loại nhỏ, an toàn, ổn định hơn và từng bước thay thế dầu khí ở nhiều quốc gia. Các lò phản ứng kiểu này đang được xây dựng liên tục ở Mỹ, Pháp, Nhật Bản và nhiều nước phương Tây. Năng lượng từ gió và mặt trời cũng đang được tận dụng. Nguồn năng lượng này đã vượt qua than đá và khí đốt ở một số vùng trên thế giới. Năng lượng mặt trời cũng được xem là nguồn điện rẻ nhất lịch sử mà loài người từng tiếp cận.

Trước những thách thức ấy, OPEC buộc phải hành động. Năm 2016, họ đã cùng với 10 quốc gia khác là Nga, Mexico, Malaysia... thiết lập một liên minh mở rộng mang tên OPEC+. Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự ra đời của tổ chức mở rộng này là việc Mỹ tăng khai thác dầu đá phiến.

Đặc biệt, nếu OPEC được xem như tổ chức đại diện cho các nước sản xuất dầu mỏ chính thì Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) là đại diện cho các nước tiêu thụ dầu mỏ. Tổ chức này được thành lập năm 1974, sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973. Đây là cơ quan cung cấp dữ liệu, dự đoán xu hướng, gợi ý chính sách năng lượng cho các quốc gia thành viên. Tổ chức này hiện có 33 thành viên chính thức, các quốc gia thuộc IEA hiện tiêu thụ 75 đến 80% năng lượng toàn cầu.

IEA được xem như một “đối trọng” của OPEC trên bản đồ năng lượng thế giới. Trong những năm sau đó, IEA đã mở rộng ảnh hưởng ra các hoạt động khác như năng lượng tái tạo, mặt trời, gió, hạt nhân... Nếu “vũ khí” của OPEC là khả năng kiểm soát nguồn cung dầu mỏ thì IEA đã khuyến khích các nước xây dựng kho dự trữ chiến lược, coi đây là đối trọng để kiểm soát phần nào hoạt động dầu mỏ.

Các báo cáo của IEA thường xuyên mâu thuẫn với thông tin của OPEC. Quan điểm chung của IEA là tin vào sự đi xuống của thị trường dầu mỏ toàn cầu, hạ thấp vai trò của tài nguyên này. OPEC thì ngược lại, đề cao vai trò của tài nguyên mà họ sở hữu. Theo Energy Connects, một báo cáo thị trường hồi giữa năm của IEA và OPEC cho thấy khác biệt tương đối rõ ràng, IEA dự báo mức tiêu thụ dầu thô toàn cầu đạt mức 103,74 triệu thùng/ngày. Con số tương tự của OPEC là 105,14 triệu thùng/ngày, chênh lệch lên tới gần 1,5 triệu thùng mỗi ngày.

Tháng 6/2003, IEA và OPEC đã tổ chức cuộc hội thảo chung đầu tiên giữa đôi bên. Kể từ đó, họ thường xuyên tiếp tục gặp gỡ, trao đổi, hướng tới mục tiêu kép là bảo đảm an ninh năng lượng toàn cầu, đồng thời bảo vệ quyền lợi của những nước sản xuất. Bản thân các nước OPEC cũng đang đối diện nhiều thay đổi lớn. Saudi Arabia hay UAE bắt đầu tính toán việc sản xuất năng lượng sạch, cụ thể là năng lượng mặt trời, sau nhiều thập kỷ phụ thuộc dầu mỏ. Nhóm các nước Tây Á đang muốn được thế giới nhớ đến nhiều hơn bằng khoa học, công nghệ, bằng năng lượng tái tạo chứ không chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào dầu mỏ.

Những thay đổi ấy có thể mang tới hình ảnh khác hơn cho OPEC trong tương lai, song khó có thể phủ nhận rằng họ vẫn sẽ là một tổ chức quyền lực bậc nhất thế giới về năng lượng.