Từ đồng đất sinh ra...
Cũng như các loại hình dân ca khác, ví, giặm bắt nguồn từ đời sống xã hội. Từ đời Tấn (265-120 TCN), trong sách Giao Châu kí, Lưu Hán ghi rằng nông thôn thời bấy giờ trẻ mục đồng cưỡi trâu, thổi sáo và hát các bài đồng dao của người Việt; còn trong sách Thuyết uyển (năm 16 TCN), Lưu Hướng có ghi lại một bài ca của người Việt hát trong lúc chèo đò và gọi đó là Việt ca...
Cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc ví, giặm, nhưng nói chung, người ta vẫn cho rằng ví xuất phát từ “ví von” (Thân em như hạt mưa sa/Hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đồng); hoặc “với” - bên nam hát đối đáp bên nữ; hoặc “vói” - hai bên trong nhà, ngoài ngõ đối đáp nhau. Còn giặm được hiểu với nghĩa gần như là giắm thêm vào (viết khác với chữ dặm, dân ca của một số địa phương khác - dặm là quãng, quãng đường).
Ví, giặm lúc mới ra đời có thể chỉ là những câu hát riêng của chị em trong lúc lao động một mình, về sau có sự tham gia của các chàng trai, câu hát càng trở nên tình tứ, uyển chuyển, dịu dàng hơn. Đặc biệt, từ khi có các nho sĩ và trí thức bình dân tham gia, câu hát đã có thêm chất trí tuệ, uyên thâm, thí dụ như: Đã có rêu bởi vì nước đứng/Núi bạc đầu bởi tại sương sa/Thấy anh, em muốn gieo ca/Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời/Thấy anh, em muốn trao lời/Sợ chòm mây bạc giữa trời mau tan...
Ví, giặm không chỉ hát đơn lẻ mà đã trở thành quy cách và thủ tục. Hát ví thường có bảy bước, ba chặng, tiêu biểu nhất là ở hát ví Phường vải; tuy nhiên không phải loại ví nào cũng tuân thủ đầy đủ quy cách này. Còn hát giặm cũng thường có ba bước cơ bản (hát dạo, hát đối và hát xe kết), tuy nhiên quy cách đơn giản hơn nhiều so với ví.
Từ Hoành Sơn ra tận Khe Nước Lạnh, hầu như vùng nào trên đất xứ Nghệ cũng đều có những làng, những người nổi tiếng với hát ví, hát giặm, tuy nhiên sách sử cũng không thấy ghi chép cụ thể, ví bắt nguồn từ vùng nào trước, giặm tồn tại ban đầu ở đâu... Gần đây một số nhà nghiên cứu đã nêu ra giả thuyết khá thuyết phục. Trong hát ví thì ví đò đưa có lẽ ra đời sớm nhất và ở vùng sông Lam, Đô Lương, nơi thuyền bè tấp nập lên xuống chợ Cồn, chợ Rạng, chợ Lạng, chợ Lường: Muốn ăn khoai sọ chấm đường/Thì trốn cha trốn mẹ ngược Lường với anh... Còn giặm với những câu hát ngắn (Đất Đồng Môn dệt vải/Đất Cổ Đạm vắt nồi/ Đất Xuân Liễu bầy tui (tôi)/Bắt một nạm cáy hôi/Về đâm đâm phơi phơi...), giọng trầm, chắc, đều đều, lời nôm na, mộc mạc, dùng thổ ngữ nhiều hơn, sinh ra nơi đồng đất hẻo lánh, có thể gốc là vùng bắc Cẩm Xuyên - Thạch Hà - nam Can Lộc...
Sự độc đáo
Không như một số loại hình dân ca khác gắn chặt với một không gian, thời điểm diễn xướng, nhất là với các lễ hội, dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và ví, giặm nói riêng được người Nghệ hát không kể thời gian, hầu như quanh năm suốt tháng. Trên đồng ruộng, giữa lúc nông vụ tất bật nhổ mạ, cấy cày, gặt hái; trên rừng trong những chuyến đi củi, đốt than, hái măng; trên sông Lam, sông La khi thuyền xuôi ngược hoặc chèo buông... tiếng hát ví, hát giặm luôn cất lên khi nhẹ nhàng tha thiết, khi trầm hùng sâu lắng, khi man mác buồn thương, khi thì hóm hỉnh, cười cợt...
Một điều đặc biệt là sự tham gia tích cực của tầng lớp trí thức, từ các nhà khoa bảng, lừng danh (Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Quýnh, Đinh Viết Thận, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý...) cho đến lớp nho sĩ, trí thức bình dân. Đại thi hào Nguyễn Du từng nổi tiếng với lời đối đáp gái Phường vải Trường Lưu khi đến trước sân nhà không may bị vấp ngã:
Đến đây hò hát làm thân
Cúi đầu bái lạy trước sân làm gì?
- Đất chi có đất lạ lùng
Đứng thì không chịu, nằm cùng lại cho...
Hoặc chí sĩ Phan Bội Châu đối đáp với gái Phường vải Nam Đàn:
Đưa chàng một nạm (nắm) ngô rang
Đúc nơi mô mà mọc, thiếp đốt nhang mời về
- Chỗ nào nắng mãi không khô
Mưa lâu không ướt đúc vô mọc liền...
Về mặt ca từ, đây cũng là nơi lưu giữ vốn ngôn ngữ khá phong phú cả phương ngữ và từ nghĩa hiếm có dân ca vùng miền nào sánh được.
Ví, giặm là lối hát ứng tác - ứng khẩu mà thành thơ, thành nhạc. Thơ của ví là thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể; giặm thường là thể thơ bốn hoặc năm chữ. Những cuộc đối đáp ví, giặm đã góp phần để lại cho văn học nước nhà một kho tàng phong phú những câu thơ độc đáo, sâu sắc về nội dung, điêu luyện về nghệ thuật...
Với nền âm nhạc hiện đại, dân ca ví, giặm đã minh chứng khả năng thích ứng cao khi trở thành chất liệu cho sáng tác ca khúc. Nhiều ca khúc đã được thăng hoa, làm xúc động biết bao con tim của các thế hệ, trở thành những bài ca đi cùng năm tháng nhờ khai thác chất liệu dân ca xứ Nghệ như Xa khơi (Nguyễn Tài Tuệ), Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh (Nguyễn Văn Tý), Vỗ bến Lam chiều (Trần Hoàn), Hà Tĩnh mình thương (An Thuyên), Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo)... Phải chăng cũng như một cơ duyên mà sau này Nguyễn Trung Phong - nguyên cán bộ quản lý ngành Văn hóa Nghệ Tĩnh đã sáng tác bài dân ca “Giận mà thương” nổi tiếng đến mức làm nhiều người nhầm tưởng đây là một trong những bài dân ca gốc: Vì thương anh nên em bàn với mẹ/Phải ngăn anh đi chuyến ngược Lường... Nói về đặc trưng âm nhạc của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, nhạc sĩ An Thuyên cho rằng, có hai đặc điểm chính - một là nỗi buồn đến “tận đáy”, hai là thể loại dân ca có lời ca hay nhất.
Dân ca ví, giặm không chỉ là phương tiện vui chơi giải trí làm vơi bớt nỗi mệt nhọc, nơi thổ lộ tâm tình của người dân xứ Nghệ, nó còn là phương tiện tuyên truyền, là mạch nguồn nuôi dưỡng những bậc nho sĩ tài hoa...
Trở thành di sản văn hóa nhân loại
Cuối năm 2012, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia. Hiện tại, hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An đang tập trung phối hợp với các cơ quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập hồ sơ trình UNESCO xét công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Ví, giặm thật sự là di sản văn hóa mang đậm bản sắc của người Nghệ, xứ Nghệ, thể hiện trên hầu hết các phương diện như âm nhạc, diễn xướng dân gian, ca từ, thời gian, không gian văn hóa, đối tượng tham gia... Bản sắc đó đã trở thành truyền thống, được trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng sức sống mãnh liệt, khả năng tái tạo, thích ứng cao trong mọi sinh hoạt âm nhạc cộng đồng như văn nghệ quần chúng (đặt lời mới), sân khấu kịch hát, ca khúc sử dụng chất liệu dân ca... Với mỗi thời đại, nhân dân xứ Nghệ đều có sự tái tạo để ví, giặm luôn thích ứng với môi trường và điều kiện lịch sử - xã hội của từng giai đoạn. Cùng với các loại hình dân ca khác, ví, giặm là tinh hoa nghệ thuật của xứ Nghệ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung, góp phần quan trọng vào việc lưu giữ vốn văn hóa truyền thống của cha ông, làm cho đời sống tinh thần của người Việt thêm phong phú, đa dạng.
Sự ra đời, hoạt động mạnh mẽ của gần 100 câu lạc bộ dân ca ở cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay, sự thành công của Liên hoan Dân ca ví, giặm xứ Nghệ lần thứ nhất trong năm 2012... là những minh chứng sống động khẳng định giá trị trường tồn và sức thu hút, lan tỏa, thăng hoa của “đặc sản” văn hóa ví, giặm Nghệ Tĩnh.