Những tác phẩm của Trang Thế Hy dưới nhiều bút danh khác nhau như Áo lụa giồng, Nắng đẹp miền quê ngoại, Mỹ Thơ, Thèm thơ... (thời ở Sài Gòn), Anh Thơm râu rồng, Vui nhỏ trên đường dây, Quê hương thứ hai của người du kích, Bên miệng hố bom đìa (hồi ở rừng) đến Nợ nước mắt, Mưa ấm, Vết thương thứ mười ba, Hai người nhìn mưa dầm... (viết sau 1975) không chỉ kể cho bạn đọc chuyện xảy ra trên một miền đất mấy chục năm biến loạn, ít những trận chiến hào hùng mà giàu ở tâm trạng những con người nhỏ bé bị lôi vào cuộc chiến, vẫn ngời sáng lòng yêu nước và niềm tin vào một ngày mai tươi đẹp, qua đó cũng biết ít nhiều về tiểu sử tác giả.
- Hình như ông đã từng làm nhiều nghề?
- Những năm chống thực dân Pháp dù làm ở Ty Thông tin Tuyên truyền, nhưng cũng mới học viết gọi là. Sau 1954, tôi được phân công ở lại, phải làm nhiều nghề, vừa kiếm sống, vừa có vỏ bọc hợp pháp để hoạt động, nào phụ xe, soát vé xe đò, giữ kho, dạy kèm học trò, làm thư ký cho hãng buôn, rồi kế toán, sửa bản in cho các báo... không có nghề gì ổn định. Thế mà vẫn bị bắt vì có người khai báo. Đến giờ, tôi vẫn coi mình là cây viết nghiệp dư, nên số lượng tác phẩm cũng chẳng đáng là bao.
- Là một người lăn lộn trường đời, có nguồn mạch văn hóa thâm hậu, nhưng số trang viết không nhiều, ông từng trả lời báo chí: Tạo hóa có nhỏ cho vài giọt năng khiếu nhưng bản thân tôi không phải là người có ý chí mạnh?
- Thì đó là tôi đã nói thật. Nhưng còn một lý do nữa mà tôi cũng đã trả lời trên báo: “Cái gì mình không yêu mến hay chưa kịp yêu mến thì đừng giả bộ yêu nó. Tôi luôn tự dặn mình như vậy cả trong cuộc sống, chứ không chỉ khi viết văn”. Với tôi, cái gì đã viết, dù ít, là phải chân thật. Đôi lần tôi bị vấp cũng là vì vậy.
- Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, một số cây bút ở lại miền nam nặng lòng với vận nước, tập họp trong mấy tờ báo gióng lên tiếng nói cảnh báo về họa ngoại xâm, về sự tha hóa và băng hoại nhanh chóng của đạo đức xã hội, sự trỗi dậy ngang ngược của bọn cường hào mới, theo đó là sự bần cùng hóa của người dân.Trang Thế Hy với nhiều bút danh là một cây bút được nhiều người yêu mến. Có phải đó là giai đoạn sáng tác sung sức nhất của ông?
- Những năm cuối 1950, ở miền nam là một thời kỳ đặc biệt. Đất nước vừa độc lập mà lại bị chia cắt. Lòng người đang ngổn ngang trong sự lựa chọn. Niềm hy vọng về một ngày mai thống nhất gợi lên trong thế hệ người viết dạo đó rất nhiều cảm hứng. Chế độ mới chưa ổn định cũng tạo cơ hội tự do - ngoài ý muốn - cho người viết thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, ý nguyện tạo dựng một xã hội có đời sống tốt đẹp cho mọi người. Một thời kỳ văn chương yêu nước nở rộ. Nhưng cũng chỉ được mấy năm. Khi Luật 10/59 đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, thì tất cả đã xiết lại. Người viết phải chọn cách nói kín đáo hơn, cả việc lấy xưa nói nay, lấy ngoài nói trong. Năm 1962, do có người khai báo, tôi bị bắt. Nhờ đó có thêm vốn sống, để khi ra rừng viết được Anh Thơm râu rồng, kể chuyện vui về một người tù có khí phách, biết khôn ngoan lẩn tránh đòn hiểm của đối phương bằng cách tỏ ra sợ sệt khi ngón đòn đó anh lại chịu đựng dễ dàng.
- Ông viết cô gái bán thân trong Thèm thơ, một đêm nào đó, tới đặt tác giả làm bài thơ kể chuyện thân phận mình, nhưng không dám trả tiền, vì: “Em có tiền, nhưng tiền của em thì anh gớm lắm, em biết, và nhiều những con người nghèo khổ, sống dưới đáy xã hội mà vẫn giữ được chất ngọc tình người, hiểu được điều hay lẽ phải”. Có phải ông đã thi vị hóa cái nghèo không? Hay ông là người chăm chút đi săn tìm những cái đẹp nhỏ nhoi bị bụi đời che khuất?
- Không phải à nghen! Để tránh bị hiểu lầm, phải nói rõ, đó là những truyện viết từ những năm cuối thập niên 50 đầu thập niên 60 của thế kỷ trước trong thành phố Sài Gòn đang bị thực dân hóa. Những người cùng đinh, nghèo khổ rất phổ biến. Nhưng chính đó là môi trường, là cánh rừng đại ngàn của lòng tốt, của sự hy sinh đã đùm bọc, chở che, nuôi giấu cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên khi bị kẻ địch săn đuổi, truy lùng, tìm diệt, ở khắp mọi nơi và cả trong thành phố. Từ ngày giải phóng, đất nước thay đổi thật nhiều, mà vẫn xảy ra bao cảnh ngạo ngược của tình đời. Trong chiến tranh, tôi từng nghĩ và viết: Mai mốt nọ kia, thằng Mỹ nó về xứ là do máu xương công sức của số đông người lam lũ như cô, không phải nhờ một vài người giỏi chữ nghĩa đeo kiếng như tôi đâu. Thế mà đôi khi tôi tự bắt gặp mình đứng về phía nhân vật xấu của chính mình. Đó là điều quá ư đau xót đối với người cầm bút... Có lúc kể chuyện cười mà buồn, chuyện vui mà khóc. Truyện đầu tiên tôi viết sau giải phóng là Nợ nước mắt, ở đây nợ nước mắt phải trả bằng những trận cười. Có khi nó là lời bào chữa cho sự bội bạc đối với những cái gì mình đã lượm lặt, tích lũy, ôm ấp, nâng niu, nung nấu để quên đi ! Cho nên đọc truyện của tôi như người ta ăn hột sen cả tim, nó nhân nhẩn, đăng đắng, ăn mất ngon nhưng nên thuốc. Đó là chất đắng bổ tim.
- Từ 1992, sau khi về hưu, nhớ đến lời khuyên từ bốn mươi năm trước của nghệ sĩ Tư Chơi, ông đã “đi chỗ khác chơi”, tức trở về quê cũ. Từ ngày ấy ông còn quan hệ gì với giới văn nghệ?
- Tôi không phải là người đi ở ẩn. Tôi thuộc tạng người: Như con cá thòi lòi, hễ ra khỏi hang là nhớ. Đúng với câu thơ của Phạm Hữu Quang: Giang hồ, ta chỉ giang hồ vặt / Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà. Nhưng bạn bè tứ phương về Bến Tre cũng có đôi người bớt chút thì giờ ghé thăm. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Đình Thi, họa sĩ Vũ Giáng Hương, nhà văn Nguyễn Khải, thường xuyên hơn là Nguyễn Hồ, Nguyên Ngọc, Chim Trắng và nhiều bạn viết trẻ đến thăm. Tôi nhớ, có lần trò chuyện, nhà văn Nguyễn Đình Thi có tự nhận, ông là người lạc quan... buồn. Bởi trong thơ văn của ông, nhiều tác phẩm lớn, hào hùng, hoành tráng nhưng vẫn phảng phất nét buồn riêng của một người giàu suy tư, cả số phận chung của đất nước, dân tộc cũng như của bản thân. Và ông nhận xét tôi là người buồn... lạc quan. Bởi nhiều truyện của tôi buồn là vì phần nhiều viết về những phận người nhỏ bé, nghèo khó mà cuộc đổi đời vẫn nằm trong hy vọng. Tôi cũng từng nói với ông Thi: Phải thay đổi cách nhìn về người nông dân Việt Nam, không thể hồn nhiên coi họ là người bạn mà phải xác định cho đúng, họ là người ơn, vì điều đó có nguồn đạo lý sâu xa hơn tình bạn. Phải khẳng định như thế để khỏi trở thành những kẻ bội bạc, vong ân, miệng nhai cơm mà lòng hờ hững với người làm ra hạt gạo. Văn học ta vẫn còn nợ họ nhiều lắm.
- Mấy năm nay ông ít viết văn, nhưng vừa in tập thơ “Đắng và ngọt”?
- Không phải sau này tôi mới làm thơ. Nhưng mấy bài thơ bạn bè chọn in cho tôi hầu hết là mới, trừ bài Đắng và ngọt, vốn có tên là Cuộc đời, đã được Phạm Duy phổ nhạc từ những năm 60 thế kỷ trước. Không viết được hay những điều làm nên phẩm chất quý giá của văn học, trước hết hãy tự hỏi mình: Có lạt lòng với lý tưởng cách mạng vì dân hay chỉ vì sự ấm êm, giàu có của bản thân, gia đình và phe nhóm mà phản bội lại những người đã hy sinh tất cả cho cách mạng. Lấy cớ nghèo, để thoát nghèo bằng mọi giá, người ta sẵn sàng làm mọi điều xằng bậy, thất đức, có khi tàn độc đến dã man. Nhưng bao giờ cũng có những con người ở tận cùng nghèo khó vẫn không cam phận sống hèn hạ, phản bội, bán nhân phẩm. Con người ta khi đã gắn bó quá chặt chẽ với đồng tiền rồi thì rất dễ quên đạo lý. Đó là thông lệ. Nhưng nâng nó thành định lý để bào chữa cho cách sống của ai đó thì trật.
- Chất Nam Bộ trong văn Trang Thế Hy nó bình dị mà có nét gì huyền ảo. Điều đó ít thấy trong văn học hôm nay?
- Không hoàn toàn thế đâu. Tôi đọc một số cây bút trẻ hiện nay cũng có những điều đáng phục lắm. Không nhiều, nhưng có những cây bút đáng nể, đáng sợ. Vẫn có những bạn trẻ viết tinh tế từng ý, tứ, câu, chữ. Đó là điều không phải người viết nào cũng chú ý đúng mức. Mỗi thế hệ cũng như từng nhà văn giỏi lắm cũng chỉ làm tốt vài chức phận xã hội bằng một số tác phẩm nào đó mà thôi. Nhưng phàm đã là nhà văn thì đều phải chung vai gánh vác một sứ mệnh chung là góp sức làm giàu ngôn ngữ của dân tộc, giàu từ, giàu ngữ, giàu sức chất chứa, đong đựng trong từng tác phẩm của mình bằng một phương tiện duy nhất là ngôn ngữ. Một nền văn chương muốn được người ta tôn trọng trước hết người viết văn phải tự tôn trọng nghề của mình, người chỉ có một tài sản duy nhất để đóng góp cho đời, đó là ngôn ngữ. Tác giả Nô-ben Cao Hành Kiện nói: Ngôn ngữ là kết tinh thượng thừa của văn minh loài người. Người viết văn đừng bao giờ quên một sứ mệnh của mình là làm đẹp, làm giàu ngôn ngữ dân tộc trong từng tác phẩm cụ thể.
Trong sự sa sút vị trí xã hội của văn chương hôm nay trước hết hãy xem lại đội ngũ những người làm văn. Trời ngả sang chiều. Cơn gió chướng non thổi qua vườn dừa xao xác làm cho gian nhà trống mát rượi. Ông báo một tin không biết nên vui hay nên buồn: Tới đây, một con đường lớn sẽ được mở qua cửa nhà ông, người ta nói đất nhà ông sẽ có giá hơn. Trời ơi. Đây là đất ở, ông có bán mua gì đâu mà đắt với rẻ. Chuyện dài suốt buổi làm ông hơi mệt, phải qua nằm võng. Cơn gió chướng cấn mạnh lên như muốn tiễn khách. Ước gì có một phép lạ nào đó, những người lấy đất làm đường góp tiền dựng cho ông một ngôi nhà tử tế để Bến Tre có thêm một địa chỉ văn hóa bền vững?
* Nhà văn Trang Thế Hy tên thật là Văn Trọng Cảnh, sinh ngày 9-10-1924 ở xã Hữu Định, Châu Thành, Bến Tre. Các bút danh: Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái, Minh Phẩm, Song Diệp... Năm 1945, cán bộ Ty Thông tin Tuyên truyền Bến Tre. Sau 1954 ở lại hoạt động văn nghệ ở Sài Gòn.1962 bị địch bắt. 1964 cán bộ Ban Tuyên huấn đặc khu Sài Gòn - Gia Định rồi Tiểu ban Văn nghệ Giải phóng thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục. Sau 1975, công tác ở báo Văn nghệ. Về hưu 1992. Tác phẩm: Nắng đẹp miền quê ngoại Sài Gòn 1964; Anh Thơm râu rồng In chung với các tác giả được Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu-1965. Mưa ấm-1981. Người yêu và mùa thu-1981. Vết thương thứ 13-1989 (in lại 2011). Tiếng khóc và tiếng hát-1993. Nợ nước mắt-2002. Truyện ngắn Trang Thế Hy-2006. Đắng và ngọt (Thơ và thơ dịch)-2009.