Đọc sách

Trường Lũy nhìn từ hôm nay

Ôn Khê Nguyễn Tử Vân là Sơn phòng sứ của triều Nguyễn thời Tự Ðức. Trong quá trình thi hành công vụ tại Quảng Ngãi, ông đã viết được cuốn sách có tên ban đầu là "Phủ man tạp lục" và giờ đây được xuất bản với tên "Trường lũy Quảng Ngãi".

Gọi là 'tạp lục' vì cuốn 'Trường lũy Quảng Ngãi' của Ôn Khê (Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội 2011, Lê Sơn Phương Ngọc - Nguyễn Hữu Quý - Hoài Chi sưu tầm biên dịch và chú dẫn; PGS, TS Phan An - TS Nguyễn Ngọc Nhuận, Viện Nghiên cứu Hán - Nôm nhuận sắc) ghi chép lại rất chi tiết những 'tên làng tên núi tên sông' suốt một miền thượng du tỉnh Quảng Ngãi như một kiểu sách dư địa chí.

Là công bộc của triều đình, dĩ nhiên Ôn Khê nhận trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc ổn định tình hình, gìn giữ hòa bình an lạc cho nhân dân cả người Kinh và người Thượng ở Quảng Ngãi. Nhưng quan điểm, cách nhìn của một ông quan quân sự triều Nguyễn hẳn phải khác với cách nhìn của chúng ta bây giờ về chính sách dân tộc, về mục đích cũng như tính hữu dụng của Trường lũy Quảng Ngãi. Là người đọc đương đại, chúng ta sẽ đọc cuốn sách có rất nhiều tư liệu quý này với góc nhìn như thế nào?

Cách đọc cuốn sách này

Theo tôi, chúng ta nên đọc cuốn sách như một tác phẩm dư địa chí về một vùng đất khá đặc biệt thuộc tỉnh Quảng Ngãi vào giữa thế kỷ 19. Trong đó, chúng ta đặc biệt ghi nhận sự hình thành của hệ thống Trường lũy Quảng Ngãi mà bây giờ đã trở thành di tích quốc gia về lịch sử - văn hóa. 'Niên hiệu Gia Long thứ 18 (1819) xây dựng Trường lũy chạy dọc vùng biên, bên ngoài các đồn bảo để ngăn phòng. Từ đó về sau, số lượng đồn bảo khi giảm khi tăng.' (trang 69). Và 'Niên hiệu Tự Ðức thứ 16 (1864) giảm bớt đồn bảo, đồng thời lập thêm trọng bảo tại các nơi hiểm yếu...' (trang 70).

Có thể, ý tưởng xây dựng Trường lũy Quảng Ngãi đã có trước đó, từ thời Bùi Tá Hán được phái vào trấn thủ Quảng Nam: 'Bấy giờ ông đối xử với người Thượng như đối với người Kinh, nên người Kinh, người Thượng đều được yên ổn làm ăn sinh sống, không xảy ra việc xâm biên gây rối nhau. Khi ông qua đời (1568), được nhân dân Kinh, Thượng lập đền thờ, chăm lo hương khói cho đến tận ngày nay.' (trang 78). Với Bùi Tá Hán, 'trường lũy' chính là lòng dân, là sự đoàn kết dân tộc giữa người Kinh và người Thượng cùng sống chung trên mảnh đất Quảng Ngãi.

Vì thế, cách đọc cuốn sách này hôm nay là đọc để biết 'hình sông thế núi', phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi cách đây ngót hai thế kỷ, đồng thời cảm thông hơn với cha ông trong suốt quá trình khai khẩn, mở đất, định cư dân ở những vùng trước đây còn hoang hóa. Với mục đích ấy, thì cuốn sách 'tạp lục' của Ôn Khê Nguyễn Tử Vân cung cấp cho chúng ta rất nhiều tư liệu.

Cái còn lại: Trường lũy lịch sử và văn hóa

Các dịch giả và nhà chú giải đã rất công phu khi tra cứu từng địa danh, từng tên gọi và từng ngôn ngữ dân tộc thiểu số Quảng Ngãi khi dịch cuốn sách này từ ngôn ngữ Hán cổ. Duy có một cái tên mà các dịch giả đã quen ngay từ khi bắt tay vào dịch cuốn sách: Trường lũy Quảng Ngãi. Bây giờ, với những gì còn lại, với chiều dài ngót 130 km kéo dài từ Trà Bồng (Quảng Ngãi) tới An Lão (Bình Ðịnh), Trường lũy Quảng Ngãi đã được vinh danh như một công trình lao động tuyệt vời của các dân tộc Quảng Ngãi, như một Trường lũy của hòa bình và giao thương minh bạch. Ðó cũng là trường lũy dài nhất Ðông - Nam Á tới nay còn lại. Cha ông chúng ta đã đổ bao nhiêu mồ hôi, đã góp bao nhiêu viên đá để xây dựng trường lũy này, chỉ với một ý nguyện là mang lại hòa bình an lạc cho một vùng đất trong quá khứ đã trải nhiều can qua. Tâm nguyện ấy đã được thể hiện qua cấu trúc của Trường lũy, qua những hoạt động cho tới bây giờ vẫn còn diễn ra bên dưới và bên cạnh các đồn bảo: đó là các chợ đầu nguồn: Ai lên nhắn với nậu nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên (ca dao). Chữ 'nậu nguồn' nghe có dễ thương không! Và các bạn có biết, 'mít non' và 'cá chuồn' ấy được 'gởi xuống' và 'gởi lên' qua Trường lũy Quảng Ngãi, thông qua các chợ đầu nguồn. Từ một công trình mang tính quân sự, Trường lũy sau nhiều năm tháng đã trở thành biểu tượng cho giao lưu thương mại, cho lịch sử và văn hóa. Qua Trường lũy, chúng ta có thể biết nhân dân Quảng Ngãi ngày xưa đã sống và lao động, khát vọng và thể hiện mình như thế nào. Nếu nhân ái và hòa bình là gốc rễ của văn hóa, thì tới lượt nó, văn hóa lại là gốc rễ của sự phát triển một vùng đất, một đất nước với nhiều dân tộc cùng chung sống. Ðó là cái còn lại của Trường lũy Quảng Ngãi, cũng là cái mà chúng ta cần tìm đọc với tầm nhìn đương đại cuốn sách này.