Vinh danh kèm tín hiệu nguy cấp
Không ít người hiểu việc được UNESCO ghi danh như một sự tôn vinh dành cho di sản. Cách hiểu ấy dễ tạo ra cảm giác tự hào chính đáng, nhưng dễ bỏ qua ý nghĩa cốt lõi của danh mục mà UNESCO sử dụng. Việc được ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp còn là tín hiệu cho thấy di sản đang ở tình trạng nguy cấp.
Cần nhìn vào hệ thống danh mục mà UNESCO áp dụng đối với di sản phi vật thể theo Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Bên cạnh Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, còn có Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Nếu danh sách thứ nhất chủ yếu nhằm tôn vinh và quảng bá những giá trị văn hóa tiêu biểu, thì danh sách thứ hai lại dành cho những di sản đang suy giảm nghiêm trọng và có nguy cơ biến mất nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời. Bản chất của danh sách này là “danh sách báo động”.
Danh sách này ghi nhận tình trạng của di sản, kêu gọi những hành động bảo vệ cụ thể. Khi một di sản được đưa vào danh mục cần bảo vệ khẩn cấp, quốc gia sở hữu di sản phải triển khai các chương trình bảo tồn như hỗ trợ nghệ nhân, truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, phục hồi không gian thực hành và tạo điều kiện để di sản tiếp tục tồn tại trong đời sống đương đại.
Ở Việt Nam, ca trù là một thí dụ. Năm 2009, ca trù được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp khi số nghệ nhân còn lại rất ít và nhiều không gian diễn xướng đã biến mất. Thời gian qua, nhiều chương trình truyền dạy ca trù được mở, các câu lạc bộ ca trù dần khôi phục, hoạt động biểu diễn từng bước trở lại trong đời sống văn hóa. Nhờ những nỗ lực đó, di sản này đã phục hồi đáng kể và hiện đang được Việt Nam chuẩn bị hồ sơ đề nghị chuyển sang Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Như vậy, việc vào danh sách khẩn cấp không phải là điểm kết thúc, mà là điểm khởi đầu của một quá trình cứu vãn di sản. Trường hợp của tranh dân gian Đông Hồ cũng cần được nhìn nhận trong tinh thần đó.
Từ thời hoàng kim đến nỗi lo mai một
Tại làng Đông Hồ nay thuộc phường Song Hồ, tỉnh Bắc Ninh, nghề làm tranh đã tồn tại hàng trăm năm và từng phát triển rực rỡ trong đời sống văn hóa của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Có một thời kỳ, làng Đông Hồ bước vào thời hoàng kim của nghề làm tranh. Theo nhiều tư liệu nghiên cứu, vào những năm đầu thế kỷ XX, gần như cả làng đều tham gia làm tranh. Nhà nhà khắc ván, pha màu, in tranh; trẻ em cũng quen với mùi giấy điệp, mùi màu in từ khi còn nhỏ. Vào những ngày cuối năm, chợ tranh Đông Hồ trở nên tấp nập. Những bức tranh được gánh đi bán khắp các chợ vùng đồng bằng Bắc Bộ, trở thành một phần quen thuộc của đời sống văn hóa nông thôn.
Thực tế hiện nay khiến nhiều người không khỏi giật mình: Cả làng Đông Hồ chỉ còn ba gia đình tiếp tục duy trì nghề làm tranh. Số nghệ nhân có thể thực hành đầy đủ các công đoạn truyền thống chỉ còn rất ít. Một dòng tranh từng là biểu tượng của mỹ thuật dân gian Việt Nam nay tồn tại chủ yếu nhờ sự bền bỉ của vài dòng họ. Chỉ cần đặt hai hình ảnh cạnh nhau - một thời cả làng làm tranh, và hôm nay chỉ còn ba gia đình giữ nghề - cũng đủ thấy mức độ mong manh của di sản.
Với tranh Đông Hồ, câu chuyện bảo tồn không chỉ nằm ở việc giữ lại vài bộ ván khắc cổ hay tôn vinh một vài nghệ nhân cao tuổi. Quan trọng hơn là khôi phục không gian làng nghề, tạo điều kiện để lớp trẻ học nghề và có thể sống được bằng nghề. Khi tranh Đông Hồ trở lại trong đời sống đương đại - gắn với du lịch, giáo dục văn hóa và các hoạt động sáng tạo - di sản mới có cơ hội tồn tại bền vững.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Khóa XV cho rằng, việc nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp cho thấy đây không chỉ là một dòng tranh, mà là cả một “hệ sinh thái văn hóa” gồm tri thức dân gian, kỹ thuật làm giấy điệp, khắc ván in, pha màu tự nhiên cùng tư duy thẩm mỹ dung dị của người Việt.
Theo ông Sơn, cơ hội lớn nhất từ sự ghi danh là tạo “cú hích” cho nhận thức xã hội, để tranh Đông Hồ không chỉ là ký ức Tết xưa mà trở thành nguồn lực văn hóa trong đời sống đương đại. Điều đó có thể mở đường cho các chương trình truyền nghề, phát triển sản phẩm sáng tạo, du lịch làng nghề và huy động nguồn lực bảo tồn.
Tuy vậy, ông cũng lưu ý những thách thức như nguy cơ thương mại hóa hời hợt, “bảo tàng hóa” di sản hoặc thiếu người kế nghiệp. “Cơ hội chỉ trở thành động lực khi bảo tồn đi cùng tư duy phát triển bền vững”, ông Sơn nhấn mạnh.
Cùng với những biến đổi của xã hội hiện đại, thị trường tranh Tết dần thu hẹp. Nhu cầu treo tranh dân gian trong mỗi gia đình giảm đi, trong khi nghề làm tranh đòi hỏi nhiều công sức mà thu nhập lại không ổn định. Để mưu sinh, nhiều hộ gia đình trong làng đã chuyển sang nghề khác, đặc biệt là làm hàng mã.