Nhà thơ Hoài Vũ và tôi

Năm 1963, ông cùng các văn nghệ sĩ: Trần Đình Vân, Ngô Y Linh, Kim Chi, Hồng Sến, Thái Ly… đã có mặt ở chiến trường Nam Bộ (B2). Tới năm 1971, tôi mới có mặt ở chiến trường Nam Bộ (B2).

Nhà thơ Hoài Vũ.
Nhà thơ Hoài Vũ.

Nhà thơ Hoài Vũ sinh 1935, vậy là ông hơn tôi 11 tuổi. Tôi rất tự hào vì là đồng hương Mộ Đức, Quảng Ngãi với ông. Và điều đặc biệt hơn, giữa hai chúng tôi luôn chảy một dòng sông mang tên Vàm Cỏ Đông. Hoài Vũ bám sông Vàm Cỏ Đông lâu hơn tôi, khi tôi chỉ bám dòng sông này hai năm cuối cùng của cuộc chiến.

Dù khác tuổi nhau, chúng tôi lại có nhiều điểm giống nhau, từ quê hương cho tới chiến trường nơi mình góp mặt. Có một điểm giống nhau mà ít người biết, là hai chúng tôi khi xuống chiến trường thường rất thương yêu, rất khâm phục các em giao liên. Đó là những người lính không có quân hàm, nhưng luôn đi đầu trong các cuộc dẫn quân và họ là những người dễ bị hy sinh nhất. Anh Hoài Vũ đã có những bài thơ về các em giao liên, tôi cũng có những bài thơ như vậy. Nếu bài thơ mang tên “Vàm Cỏ Đông” được Hoài Vũ sáng tác từ năm 1963, ngay khi anh vừa đặt chân đến Long An, thì bài thơ “Vàm Cỏ Đông” của tôi viết năm 1973, ngay tại thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông.

Nói về những em giao liên, thì nhà thơ Hoài Vũ kể: "Năm 1968, khi theo đại quân vào Sài Gòn, không may tôi bị sốt rét phải nằm lại Trạm giao liên Đồng Tháp Mười. Tại đây, tôi đã gặp 5 - 6 nữ giao liên. Tôi đặc biệt có cảm tình với một cô tên là Lan. Đến năm 1971, khi tôi quay lại thì cả rừng tràm đã xác xơ vì bom đạn tàn phá và tôi rất buồn khi biết tin Lan đã hy sinh. Một đêm, cảm xúc đau xót và mất mát ùa ra, tôi viết ngay được bài thơ “Đi trong hương tràm”, trong đó có hai câu: "Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng/Hương tràm bên anh mà em đi đâu?"...

Thơ Hoài Vũ đầy cảm xúc vì nó luôn được viết từ sự thật ở chiến trường. Thơ tôi cũng vậy. Chỉ viết từ cảm xúc và viết chân thật tới tận cùng. Hai chúng tôi luôn gặp nhau ở chỗ đó. Nhưng tôi rất buồn mỗi khi nhắc đến thơ anh Hoài Vũ, thơ hay như thế, xúc động như thế nhưng người ta chỉ biết những ca khúc phổ thơ ấy. Nhiều nhạc sĩ đã “bỏ quên” tác giả thơ khi nếu không có những bài thơ ấy, họ làm sao phổ thành những ca khúc chinh phục lòng người như vậy?

Bản tính rất khiêm nhường của nhà thơ Hoài Vũ đã khiến anh bị khuất lấp, kể cả với những Hội đồng xét Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Cho tới giờ, anh vẫn chưa nhận được hai Giải thưởng ấy. Đó không chỉ là thiệt thòi cho anh, mà thiệt thòi cho chính văn học thời chống Mỹ, cứu nước.

Trên tinh thần yêu cầu sự công bằng cho nhà thơ Hoài Vũ và cho văn học Giải phóng miền nam, tôi đề nghị Hội đồng xét giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2026-2027 này cần vinh danh nhà thơ Hoài Vũ với giải thưởng xứng đáng nhất là Giải thưởng Hồ Chí Minh. Năm nay anh Hoài Vũ đã 91 tuổi, thời hạn sống trên đời của anh không còn dài nữa, vì vậy Hội đồng xét giải thưởng văn học nên đặc biệt chú ý tới trường hợp này. Để “Không một ai bị lãng quên, không một cái gì bị quên lãng” như câu thơ tuyệt vời của nữ thi hào Liên Xô Olga Berggolts.

Nhân đây, tôi xin công bố lại đôi bài thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Hoài Vũ để bạn đọc thưởng thức:

Vàm Cỏ Đông

Ở tận sông Hồng, em có biết

Quê hương anh cũng có dòng sông

Anh mãi gọi với lòng tha thiết:

Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ Đông!

Đây con sông xuôi dòng nước chảy

Bốn mùa soi từng mảnh mây trời

Từng ngọn dừa gió đưa phe phẩy

Bóng lồng trên sóng nước chơi vơi

Đây con sông như dòng sữa mẹ

Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây

Và ăm ắp như lòng người mẹ

Chở tình thương trang trải đêm ngày

Đây con sông như dòng lịch sử

Sáng ngời tên từ thuở Cha Ông

Đã bao phen đoàn quân cảm tử

Vùi đáy sông xác giặc tanh nồng

Ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi con sông

Nước xanh biêng biếc chẳng thay dòng

Đuổi Pháp đi rồi, nay đuổi Mỹ

Giặc đi đời giặc, sông càng trong

Có thể nào quên những đêm thâu

Thức với sao đêm, anh đánh tàu

Má đem cơm nóng ra công sự

Nghe tàu Mỹ rú, giục “ăn mau”

Có thể nào quên cô gái thơ

Bơi xuồng thoăn thoắt dưới trăng mờ

Đưa đoàn “Giải phóng” qua sông sớm

Bên sông, bót giặc đứng sờ sờ

Có thể nào quên những con người

Tóc còn xanh lắm, tuổi đôi mươi

Dám đổi thân mình lấy tàu giặc

Nụ cười khi chết hãy còn tươi

Vàm Cỏ Đông đây, ta quyết giữ

Từng chiếc xuồng, tấm lưới, cây dầm

Từng con người làm nên lịch sử

Và dòng sông trong mát quanh năm

Vàm Cỏ Đông đây, ta quyết giữ

Từng mái nhà nép dưới rặng dừa

Từng thửa ruộng ngời đen màu mỡ

Từng mối tình hò hẹn sớm trưa...

Ở tận sông Hồng, em có biết

Quê hương anh cũng có dòng sông

Anh mãi gọi với lòng tha thiết

Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ Đông!

Long An, tháng 8/1964

Đi trong hương tràm

Em gửi gì trong gió trong mây

Để sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp nơi mây hương tỏa bay!

Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay màu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau

Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hy vọng

Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?

Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...

1/1983

(Bài thơ này đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành bài hát cùng tên)

Nhà thơ Hoài Vũ còn có bài thơ “Hoàng hôn lặng lẽ” sáng tác tháng 9/1989 với những câu thơ như: “Anh phải về thôi, xa em thôi!/Ngoài kia phiên chợ vãn lâu rồi/Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc/Mà lời từ biệt chẳng lên môi…”. Bài thơ đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành bài hát “Chia tay hoàng hôn”.

Đặc biệt, ông còn có bài thơ “Gửi miền hạ” được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành bài hát “Anh ở đầu sông, em cuối sông” vào năm 1978. Những câu thơ đã trở nên ca từ thân thuộc với nhiều thế hệ: “Anh ở đầu sông em cuối sông/Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông/Thương nhau đã chín ba mùa lúa/Chưa ngày gặp lại, nhớ mênh mông!... Đất quê ta xanh xanh triền lá/Giặc nhảy vào, lá hóa rừng chông/Nước quê ta dập dềnh tôm cá/Giặc lội vào, nước dựng thành đồng”.