Sự lệch chuẩn trong sáng tác và thẩm định
Tuy với số lượng ít nhưng sóng gió từ mảng văn học này không hề nhỏ. Bắt đầu từ năm 1989, với hiện tượng các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, rồi gần đây là truyện ngắn "Dị hương" của nhà văn Sương Nguyệt Minh, tiểu thuyết "Hội thề" của nhà văn Nguyễn Quang Thân (những tác phẩm đã được giải thưởng cao của Hội Nhà văn Việt Nam), ngoài ra còn phải kể đến tiểu thuyết "Thời của thánh thần" của nhà văn Hoàng Minh Tường..., đều là những cuốn sách được dư luận chú ý nhiều với những đánh giá khác nhau.
Trong công văn của Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương có đoạn tỏ ra băn khoăn: "Mấy năm gần đây, nhiều văn nghệ sĩ quan tâm đến đề tài lịch sử với cách tiếp cận và thể hiện khác nhau, nhất là biên độ hư cấu. Nhiều văn nghệ sĩ và công chúng băn khoăn trước những câu hỏi: "Ðâu là hư cấu, đâu là giải thiêng", "Ðâu là lịch sử, đâu là nghệ thuật?"... Thậm chí không ít công chúng bức xúc khi thấy qua một số tác phẩm văn học, nghệ thuật, các vị anh hùng lịch sử vốn được cả dân tộc tôn vinh, đã bị xuyên tạc, bôi nhọ...". Những vấn đề ấy, nhất là mối quan hệ giữa văn học viết về lịch sử và lịch sử, trong đó có giới hạn hư cấu, tức biên độ hư cấu tới mức nào, liều lượng ra sao; hay phản ứng của công chúng về sự xúc phạm đến các nhân vật lịch sử đáng tôn kính đã được lịch sử khẳng định, v.v. đều cần được giải quyết một cách thỏa đáng.
Tôi nghĩ rằng, nếu nước ta có một nền giáo dục bình thường, tuổi học sinh, sinh viên mọi người được học tập lịch sử một cách bình thường, việc giảng dạy lịch sử được minh bạch và khoa học, thế tất chúng ta sẽ đào tạo được những lớp người có tri thức lịch sử đúng chuẩn. Ðúng chuẩn ở đây có nghĩa là nhận thức về lịch sử và các nhân vật có tác dụng chi phối cả một giai đoạn lịch sử thật khách quan, khoa học, nghĩa là có những đánh giá công bằng và minh bạch.
Và nếu như cơ sở nhận thức của nhà văn về lịch sử đã đúng đắn, khoa học, thì trong các tác phẩm văn học viết về lịch sử của họ không thể phản lịch sử, phản khoa học. Ở đây, vấn đề đặt ra là không phải lịch sử có cái gì, nhà văn cứ phải nhất nhất tuân theo. Lịch sử được ghi chép lại các sự kiện thông qua các sử gia. Các nhà nghiên cứu lịch sử phải lấy đó làm điểm tựa, còn các nhà văn chỉ coi nó là những thông tin để tham chiếu. Ðôi khi nhà văn không đặt niềm tin tuyệt đối vào nó, bởi nhà văn là người giải mã lịch sử chứ không là kẻ nô lệ của lịch sử. Do đó biên độ hư cấu của nhà văn là không giới hạn, bởi thuộc tính của tiểu thuyết là hư cấu, tiểu thuyết lịch sử cũng không có ngoại lệ. Tuy nhiên, sự hư cấu trong các tác phẩm văn học kể cả các tác phẩm đương đại và tác phẩm viết về lịch sử đều phải đạt tới giá trị chân thực của cuộc sống, chứ không cho phép sự tùy tiện, áp đặt theo dụng ý của người viết.
Việc phân biệt thể loại để thẩm định nội dung là rất quan trọng. Thí dụ, tác phẩm văn học viết theo tiêu chí dã sử, tức là thiên trọng khuynh hướng dân gian, trong đó bao chứa cả huyền thoại, đôi khi là huyền hoặc nữa. Nghĩa là nó chỉ lấy thời điểm lịch sử, vấn đề lịch sử làm cái cớ thôi chứ không phải tuân thủ một cách tương đối như tiểu thuyết lịch sử. Nếu đóng đinh tác phẩm loại này vào danh mục tiểu thuyết lịch sử, thì sự phẩm bình chắc là không ăn nhập.
Ở phần trên, trong nhóm tiểu thuyết lịch sử, tôi có đề cập tới tác phẩm "Thời của thánh thần" của nhà văn Hoàng Minh Tường. Tác phẩm này theo tôi đủ tiêu chuẩn một tác phẩm văn học mang đề tài lịch sử nghiêm túc (tôi không phẩm bình về nội dung mà chỉ xét về thể loại). Tác phẩm đã đề cập đến hàng loạt các sự kiện lịch sử từ trước 1945 và kéo dài cả thời kỳ sau đó. Nếu ta lấy mốc thời gian từ 1945 cho các sự kiện chính, thì từ đó tới khi "Thời của thánh thần" ra đời, có độ lùi thời gian là 55 năm. Tương tự "Chiến tranh và hòa bình" của L.Tôn-xtôi, lấy sự kiện chính diễn ra từ năm 1812, khi tác phẩm được in lần đầu vào năm 1865; thì độ lùi thời gian của "Chiến tranh và hòa bình" là 53 năm. Nửa thế kỷ là độ lùi cần thiết để đánh giá các sự kiện cho thật khách quan.
Ðể có tác phẩm văn học về đề tài lịch sử
Về vai trò của lịch sử, một sử gia người Pháp đã từng nói: "Lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được". Quả thật, trong một thời gian khá dài, ta đã xem nhẹ vai trò của lịch sử một cách đáng kinh ngạc.
Ðể có được một cái gì đó ghi vào chính sử, các thế hệ cha ông ta đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu. Và cái gì để lại cho con cháu đời sau, thuần là những kinh nghiệm sáng giá và trí khôn minh triết. Ngô Quyền làm thế nào đánh tan được 20 vạn quân Nam Hán do thái tử Lưu Hoằng Thao cầm đầu? Nhà Lý trăn trở xây dựng cơ sở cho nền văn hiến trường tồn, mở ra một thời kỳ mới cho nền văn minh Ðại Việt! Nhà Trần đất chật người ít mà ba lần toàn thắng đế quốc Mông - Nguyên, một đế quốc khổng lồ có sức mạnh kinh thiên động địa đã chinh phục gần hết châu Á, quá nửa châu Âu. Các nước như Nga, Trung Hoa đều quỵ ngã và chịu dưới ách thống trị của chúng... Kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của tiền nhân như vậy, chẳng phải là một kho trí tuệ vô tận cho chúng ta thừa hưởng sao? Nếu ta biết khai thác một cách thông minh từ trong lịch sử dân tộc, sẽ đem lại cho ta trí khôn và sức mạnh nhân lên nhiều lần so với cái ta hiện có.
Song, muốn biến lịch sử thành tài sản, thành sức mạnh của dân tộc thì toàn dân phải có nhận thức đúng đắn về vai trò của lịch sử. Và ai có thể làm chuyển biến được nhận thức của cả một dân tộc? Nhà nước! Chỉ có Nhà nước và các chính sách đúng đắn, hợp lòng dân mới có khả năng làm thay đổi nhận thức của cả dân tộc. Và như vậy thì nhiều ngành phải vào cuộc. Trước hết là ngành giáo dục. Phải biên soạn chương trình sao cho dễ học, dễ nhớ. Phải bồi dưỡng kiến thức lịch sử cho giáo viên và huấn luyện cho họ nghệ thuật truyền đạt sao cho hấp dẫn. Và cùng đó, phải "văn chương hóa lịch sử" bằng tiểu thuyết và các tác phẩm văn học khác. Việc này Hội Nhà văn phải vào cuộc với trách nhiệm khá nặng nề. Rồi ngành văn hóa, ngành thông tin truyền thông phải nhập cuộc. Tức là khi đã có tác phẩm văn học viết về lịch sử khả dĩ có chất lượng thì phải in ấn số lượng lớn, phát đến tận thư viện các trường học, thư viện nhân dân các cấp. Phải phát động phong trào đọc sách và thi tìm hiểu lịch sử. Trên cơ sở của các tác phẩm văn học, các ngành nghệ thuật khác như sân khấu, điện ảnh phải biến nó thành tác phẩm của ngành mình. Tất nhiên, Viện Khoa học lịch sử và Hội Khoa học lịch sử cũng không thể đứng ngoài cuộc. Và hơn hết, lý luận, phê bình phải đi trước một bước.
Dẫu vậy, điều cuối cùng cần làm là phải tôn vinh những tác phẩm có giá trị cho đúng mức, trên cơ sở đánh giá thật chính xác, công tâm và minh bạch. Có như thế, chúng ta mới khuyến khích được các nhà văn nhập cuộc.