Vừa thoát khỏi nền văn học song ngữ đầy mặc cảm được vài trăm năm, văn học tiếng bản địa Ðông-Nam Á đã bị đánh tiếp đòn phủ đầu. Như thể đứa trẻ chưa đầy ba thế kỷ rời khỏi cái bóng mẹ rậm rạp to tướng là văn hóa Ấn Ðộ và Trung Hoa, chưa luyện cho mình bước đi vững chãi dưới nắng mặt trời, lại bị phủ rợp trong bạt ngàn cái ô lấp lánh của văn minh Âu Mỹ. Mặc dù với tinh thần dân tộc quật cường trả giá bằng bao nhiêu xương máu, ta đã tống khứ thực dân châu Âu về nước; và dù ta cũng đã kịp học được tinh thần tự do, dân chủ, nhưng cái "ô dù" kia vẫn ở lại. Không phải trên mảnh đất quê hương ta, mà ngay trong tâm hồn ta. Ta lại tiếp tục chương trình núp bóng với sự nể phục, say mê, sợ hãi, xa lánh hay chống báng họ. Vọng ngoại và bài ngoại mãi song hành tồn tại trong tâm thức của đa số con người Ðông-Nam Á.
Nếu nghìn năm trước, ông bà ta thuộc nằm lòng Upanisads, Mahabharata, Long Thọ, thuộc cả hành vi, thái độ của Khỉ vương Rama rồi thì, nghiền nát như cháo Khổng - Lão - Trang, Hồng Lâu mộng, Ðông Chu liệt quốc, cùng là cơ man mưu trí nhặm lẹ của cuộc so tài Tào Tháo - Khổng Minh,... nhớ đến từng chi tiết tưởng không cần thiết phải nhớ; thì trăm năm nay, ông cha hay con cháu ta cũng có thể đọc vanh vách tên các ông Gớt (Goethe), Nít-xơ (Nietszche), V.Huy-gô (Victor Hugo), La-mác-tin (Lamartine), Ðốt-xtôi-ép-xki (Dostoievski), Hen-ri Mi-lơ (Henri Miller), những Tấn trò đời hay Giã từ vũ khí hoặc Sông Ðông êm đềm,... mà không ngại ... sai chính tả!
Học tập, thâu thái cái hay điều quý của người không có gì xấu hổ hay mặc cảm cả. Phiền là: ở chiều hướng ngược lại, có mấy ông Tây bà Tàu bỏ công học tập, nghiên cứu Truyện Kiều của Việt Nam hay Phra Ăng-phray-ma-ni của Xủn Thon Phu (Thái-lan)? Còn hôm nay, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Dương Thu Hương,.. được dịch ra tiếng Anh, Pháp không hẳn bởi mục đích văn chương mà còn bởi chuyện ngoài lề nào khác.
Xưa đã thế, nay cũng không hơn gì. Hoa tâm (Trung Quốc là trung tâm, ngày trước), Âu tâm (phương Tây, sau đó) rồi Mỹ tâm (Hoa Kỳ, hiện nay) cứ thay nhau làm mưa làm gió khắp mặt báo, trang văn trong cuộc chơi chữ nghĩa của Ðông-Nam Á. Ngoài kia, một nhà văn nào đó vừa ra mắt tiểu thuyết mới hay tác giả nào đó có bồ nhí liền được báo chí ta biến ngay thành sự kiện. Còn ta, Văn Cao hay Bùi Giáng lớn là thế, mất, có mấy tờ báo Âu Mỹ đưa tin? Báo chí Bru-nây hay Cam-pu-chia cũng không nữa là! Ngó qua lĩnh vực bóng đá: mớ dây chằng cái đầu gối của Rô-nan-đô hay kiểu tóc sớm nắng chiều mưa của Béc-kham được cập nhật đều đặn trên trang nhất các tờ báo thể thao "uy tín", nóng hôi hổi. Còn SEA Games mình? Có chăng khi Liên đoàn bóng đá Ðông-Nam Á cần đến FIFA ghé qua xem xét vụ bán độ (Ma-lai-xi-a sáu năm trước hay Việt Nam 2005)!
Ðó là thực tế! Ðau, nhưng chịu.
Không ít lần chúng ta đã quyết chí vượt thoát khỏi sự che rợp của mấy cái bóng kia: Cham-pa, Chân Lạp từng học biết chọn Núi Thiêng (Meru), quanh đó họ xây dựng đền tháp, quyết tuyên xưng cái nỗi trung tâm vũ trụ của mình. Thánh địa Mỹ Sơn hay Ăng-co Vát là chứng tích cho vụ trỗi dậy phạm húy đó. Hay cả việc Quang Trung dũng mãnh thử nghiệm đưa chữ Nôm vào việc triều chính nữa!
Nhưng rồi, đâu lại vào đấy. Ðông-Nam Á vẫn cứ là vùng trũng của văn học thế giới. Không phải ngoại vi, mà là vùng trũng, đúng theo nghĩa đen của nó. Hai thập niên đầy sôi động, chỉ tính Giải Nô-ben văn chương thôi, trong lúc những dòng văn học (lâu nay bị cho là) ngoại vi (the peripheral literature) khắp nơi đang nỗ lực giành và giành được bao thành tích chói lọi: từ Goan-ta-mê-la (Át-tu-ri-át/ Assturias), Cô-lôm-bi-a (Mác-két/ Marqués), Chi-lê (Nê-ru-đa/ Neruda)..., cho đến Ấn Ðộ (Ta-go/ Tagore), Trung Quốc (Cao Hành Kiện),... như thể một cuộc vây ráp tấn công vào vài nền văn học từng ngạo mạn vỗ ngực xưng ta trung tâm; thì Ðông-Nam Á cứ như đứng nhìn. Không so đọ đâu xa, ngay cạnh ta thôi: Nhật Bản (với những tên tuổi: Ka-oa-ba-ta (Kawabata), Ken-gia-bu-rô Ô-ê (Kenzaburo Oe), Ha-ru-ki Mu-ra-ka-mi (Haruki Murakami,...), ta cứ là kẻ ngoài cuộc! Người thiên hạ coi ta là vùng ngoại vi, đã đành; chính ta tự coi mình và coi nhau như thế mới lạ!
Xa hơn, tại Hoa Kỳ chẳng hạn, văn chương Mỹ gốc Á (Asian American literature) hay trước đó, văn chương Da den trong truyền thống của thập niên 20, rồi 40 năm sau bộ Luật Di đân năm 1965, các dòng văn chương da-mầu-mới của những đợt di dân phát triển mạnh mẽ, thời gian qua. Chúng tấn công vào trung tâm của sinh hoạt văn chương Hoa Kỳ, hoặc tự hình thành các trung tâm mới. Không ít tác giả còn cả quyết rằng chính họ mới là trung tâm, bởi kinh nghiệm di dân là kinh nghiệm chung của Hoa Kỳ, làm nên truyền thống của văn học Mỹ. Dễ dàng thấy rằng, trong các tuyển tập thơ văn Mỹ, tên tác giả - rất không phương Tây ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Như vậy, sự có mặt tác giả thuộc dòng văn chương di dân đã làm giàu sang sắc thái nền văn học Hợp chủng quốc, chứ không làm nó mất bản sắc.
Tuần lễ SEA Write Award (Giải thưởng văn học Ðông-Nam Á) tháng 10-2005, trong buổi giao lưu với Hội Nhà văn và sinh viên văn chương Thái-lan, tôi nêu lên câu hỏi: Có ai trong chín vị SEA Write Awardees năm nay - chín khuôn mặt (được coi) là đại diện xuất sắc nhất của văn chương nước mình - quen biết nhau, đọc của nhau hay thậm chí, biết đến tên nhau? Không ai cả! Văn chương khu vực Ðông-Nam Á mãi đến hôm nay vẫn còn đóng cửa với nhau, là vậy. Nhà văn Ðông-Nam Á không quan tâm đến nhau, không cần nhau, nếu không muốn nói - xem nhẹ nhau và... xem nhẹ chính mình. Chúng ta có học (dịch thuật, nghiên cứu, hội thảo) là học của người khác chứ không học tập ta. Tâm lý hậu thuộc địa còn trì nặng nơi tâm thức sáng tạo của mỗi nhà văn Ðông-Nam Á.
Dạo qua các hiệu sách lớn tại Băng-cốc, Kua-la Lăm-pơ, không thấy Bùi Giáng, Võ Phiến, Nguyễn Quang Thiều, Hữu Thỉnh,... đâu cả! Cũng vậy, ở Sài Gòn hay Hà Nội, hoàn toàn vắng bóng tác phẩm của Bi-la Xông-ca-la-gi-ri (Binlah Sonkalagiri - Thái-lan), A-đun Ga-pha I-bra-him (Abdul Ghafar Ibrahim - Ma-lai-xi-a), A-cép Giêm-giêm No (Acep zamzam Noor -In-đô-nê-xi-a),...Tại các trường đại học Việt Nam, văn học Ðông-Nam Á chỉ được giới thiệu rất sơ sài. Luôn luôn là "vài nét về", không nhích lên thêm phân tấc.
Hơn mươi năm qua, về lĩnh vực chính trị - xã hội, các nước trong khối ASEAN đã đạt được vài thành tích đáng kể trong hội nhập và phát triển, riêng lĩnh vực văn học thì chưa. Cửa vẫn im ỉm đóng!
Như vậy, không có gì phải mặc cảm đóng cửa hay sợ hãi đến tự cách ly cả! Ðông-Nam Á có cả truyền thống văn hóa - lịch sử mấy nghìn năm ở sau lưng và sức trẻ sôi động ở phía trước. Bi-la Xông-ca-la-gi-ri (Binlah Sonkalagiri - Thái-lan), khuôn mặt trẻ nhất của SEA Write Award 2005, một ca sĩ nổi tiếng dám từ bỏ nghề ca hát để cầm bút viết truyện cho thiếu nhi; A-đun Ga-pha I-bra-him (Abdul Ghafar Ibrahim - Ma-lai-xi-a), làm thứ thơ con âm lạ lẫm, từng bị Hội Nhà văn Mã Lai gán cho cái tên thơ điên, nhưng ông vẫn kiên trì theo đuổi nó đến cùng, để 30 năm sau chính cái Hội đã từng hất hủi ông đó phải công nhận thử nghiệm của ông; hay A-cép Giêm-giêm No (Acep zamzam Noor - In-đô-nê-xi-a), nhà thơ kiêm họa sĩ, dẫu Anh ngữ vừa trình độ giao tế, vẫn hiên ngang mang thơ mình đọc khắp trời Âu. Tất cả đều giành sự tưởng thưởng xứng đáng!
Các nhà văn Ðông - Nam Á hôm nay đang cơ hội tham dự vào cuộc hội nhập lớn, đang tự trang bị cho mình một tinh thần dân tộc mở - nếu có thể nói vậy.
Chúng ta sẵn sàng giới thiệu đến nhau, học tập và bổ sung cho nhau các đặc trưng văn hóa, tự giác và bình đẳng. Ở đây, không ai là đàn anh hay kẻ cả cả, cũng chẳng có đâu trung tâm hay ngoại vi. Bên cạnh có "một thái độ sẵn sàng hợp tác với Kẻ Khác" (Ulf Hannerz). Kẻ Khác đó chính là các nền văn học tự nhận (hay chúng ta cho nó) là trung tâm.
Như thể một/ các nền văn học đang trưởng thành thực sự.