Dù còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng khi thời gian đã lùi lại hơn 20 năm, thì dù muốn hay không muốn, những tác phẩm văn học được giải thưởng năm 1991 của Hội Nhà văn Việt Nam vẫn là những tác phẩm khẳng định được giá trị của nó, người đọc vẫn tìm đọc và các nhà xuất bản đỡ đầu những tác phẩm đó có lẽ cũng cảm thấy hài lòng vì đã góp phần đưa những tác phẩm văn học có giá trị vào đời sống cộng đồng.
Nhưng cũng từ giải thưởng văn học Việt Nam năm 1991 đến nay, gần như đều đặn năm nào cũng có tác phẩm được trao giải thưởng của hội nghề nghiệp, vậy mà có quá ít tác phẩm gây được ấn tượng, để lại dư âm trong lòng người đọc, dù râm ran trong dư luận của người viết lẫn người đọc, lúc này lúc khác, vẫn tìm thấy những tác phẩm đáng đọc, đáng tranh luận và đáng suy ngẫm. Trong đội ngũ đông đảo những người viết hiện nay, tôi tin là vẫn có những tác phẩm có giá trị, những tác phẩm bắt nguồn từ hiện thực đời sống và bằng nghệ thuật của ngôn từ, nhà văn góp phần tác động đến nhận thức, tình cảm của con người, làm cho xã hội tiến bộ hơn, nhân văn hơn. Tuy nhiên, trong thực tế, những tác phẩm văn học phản ánh trung thực hiện thực cuộc sống đến với người đọc lại không nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi. Thực tế này, cũng đã khiến cho không ít nhà văn, nhà xuất bản và đông đảo người đọc đặt ra câu hỏi.
Tài năng văn học thời nào cũng hiếm. Nhưng hiếm chứ không phải là không có. Tài năng đó là do chính nhà văn quyết định với bản lĩnh sống trong môi trường sáng tạo của mình. Rồi, để đưa được tác phẩm của tài năng đó đến được với người đọc, theo quy định của luật pháp còn phải qua cánh cửa của một nhà xuất bản, mà theo cách phản ứng thông thường, là phải hết sức cẩn trọng.
Cái cơ chế quen thuộc của việc biên tập và xuất bản, cùng với thời gian, đã âm thầm tác động đến tâm lý của người viết. Và rồi, để tác phẩm không bị người khác góp ý chỉnh sửa, thì trước hết, nhà văn tự biên tập cho tác phẩm của mình. Nhiều nhà văn còn cắt xén, loại bỏ nhiều hình ảnh, nhiều chi tiết, nhiều thân phận ra khỏi tác phẩm trước khi chúng được viết lên trên trang giấy. Thế là hiện thực còn lại trong tác phẩm chỉ là một phần nào đó của hiện thực, thứ hiện thực đã bị pha loãng, sự chân thực của ngòi bút dần dần bị mất đi. Nhân vật lờ nhờ, yêu không ra yêu, ghét không ra ghét. Những tác phẩm nửa vời như thế, dĩ nhiên, sẽ yểu mệnh. Thậm chí, nó đã chết trước khi được nhà xuất bản đóng dấu khai sinh. Với cách khai sinh như thế, những người làm công tác xuất bản, trong chừng mực nào đó, đã góp phần làm cho không ít những tác phẩm vô hồn, những tác phẩm thiếu hơi thở cuộc sống, lại hiện diện nhan nhản ở các hiệu sách, mà nhiều lúc ngay cả chính tác giả của chúng cũng lầm tưởng đó là tác phẩm văn học nghệ thuật, nhiều khi còn nghểnh mặt vênh vang công trạng. Nhưng, một bộ phận công chúng độc giả biết đọc thì họ tinh tường hơn. Họ không ngộ nhận, song có lẽ họ cũng không còn nhiều kỳ vọng vào các sáng tác mới của các nhà văn đó nữa. Thay vì chờ đợi những tác phẩm có giá trị, họ dành nhiều thời gian tìm đọc các tác phẩm văn học nước ngoài. Thực tế cho thấy, trong mấy thập niên qua, tác phẩm văn học nước ngoài được dịch và xuất bản nhiều ở ta, nhiều nhất vẫn là các tác phẩm văn học hiện đại của Trung Quốc, một đất nước có quá nhiều điểm tương đồng với chúng ta. Các tác phẩm phản ánh hiện thực đời sống Trung Quốc với tất cả gam màu từ hiện thực đời sống của nhà văn Mạc Ngôn, Vương Mông, Giả Bình Ao, Vương Sóc, v.v. được tái bản nhiều lần.
Còn một số đông người đọc trẻ, vốn không mặn mà gì với các sáng tác của các nhà văn chuyên nghiệp thì gửi gắm tâm tư của mình vào những trang nhật ký điện tử. Thế là hiện tượng văn học mạng, văn học ăn xổi ở thì ra đời. Công tâm mà nói, cái được của một số tác phẩm văn học mạng chính là sự chân thành hồn nhiên của người viết, điều mà phần lớn các nhà văn chúng ta dường như không còn có được. Và cũng bởi chính sự chân thành mà những quyển sách được in từ những trang nhật ký đời thường đó lại được một bộ phận độc giả trẻ tuổi đón nhận và chia sẻ. Có nhiều quyển sách in đến hơn một vạn bản. Ðể rồi, nhiều lúc, những quyển sách giải trí dễ dãi ken đầy trên các giá sách như một nhát chém vào mặt những nhà văn có tâm có tài. Còn những người làm xuất bản thì nhiều lúc thấy day dứt, hổ thẹn, thấy có lỗi với nền văn học nghệ thuật vị nhân sinh của ta. Vô hình trung, nhà văn lẫn nhà xuất bản đều chưa làm tròn nhiệm vụ người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
Các thế hệ nhà văn đi trước đã hoàn thành sứ mệnh một cách oanh liệt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nhưng ở giai đoạn hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước hiện nay, sự đóng góp của các thế hệ nhà văn, dù đã đạt được những thành quả đáng kể (nếu mở góc nhìn rộng ra, tác phẩm văn học vẫn ở thế thượng phong, kể cả mảng sân khấu, điện ảnh, âm nhạc... hầu hết những tác phẩm có giá trị nghệ thuật đều dựa trên cái nền của nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ ca...). Thế nhưng, thành tựu văn học cũng như tiếng nói của văn học đối với đời sống vẫn chưa thấm vào đâu so với đòi hỏi từ cuộc sống, từ nhân dân. Nguyên nhân trước hết là do nhà văn chưa phát huy hết nội lực, cũng như nhà xuất bản - nơi đỡ đầu cho các tác phẩm văn học - thiếu bản lĩnh. Cùng đó là thiếu vắng sự đóng góp của những người làm công tác phê bình thật sự. Ngoài ra, cách nhìn nhận, đánh giá tác phẩm văn học của nhiều người, nhiều cấp quản lý vẫn còn quá lỗi thời, thiếu khách quan, có lúc còn suy diễn, quy chụp nặng nề, mà sự kiện 'Cánh đồng bất tận' mấy năm trước đây là một minh chứng. Thử hỏi, trường hợp đáng buồn này, nếu không được sự can thiệp và bảo vệ tích cực của báo chí, công luận và người đọc, cũng như của lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam và các cấp cao hơn, thì 'Cánh đồng bất tận' của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sẽ ra sao?
Cuộc sống không ngừng phát triển. Và, với tư cách người sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật, không nhà văn nào không muốn tìm tòi cách thể hiện để phản ánh trung thực nhất cái hiện thực mà nhân dân và Tổ quốc mình đang nếm trải. Ðảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhà văn, bằng nghệ thuật ngôn từ của mình, có thể nói được tiếng nói thuyết phục nhất từ cuộc sống và quay trở về phục vụ đời sống, phục vụ nhân dân. Vấn đề là chính nhà văn và các nhà xuất bản, nơi đỡ đầu cho tác phẩm văn học, cần tự tước khỏi những nỗi sợ dường như không lúc nào không ám ảnh. Chỉ khi ấy, tác phẩm văn học mới giữ được cái vị ngọt đắng làm say lòng người.
| * Không chỉ làm vai trò bà đỡ, nhà xuất bản còn phải làm nhiệm vụ của người lính gác trên trận tuyến chữ nghĩa. Cho nên, dù được biên tập, nhưng phần đông các nhà xuất bản đều ngán ngại trước những tác phẩm ngồn ngộn hiện thực với đủ gam màu sáng tối của cuộc sống và thường tìm cách né tránh bằng nhiều cách, như trả lại bản thảo, hay yêu cầu nhà văn tự chỉnh sửa lại tác phẩm của mình, hoặc cùng nhà văn cắt xén, thay đổi... Thường thì việc làm này chỉ khiến tác giả vừa xót, vừa đau, bởi ít khi nâng được giá trị cho tác phẩm, mà chỉ cốt sao để nhà xuất bản và các cấp lãnh đạo xuất bản tránh được những hệ lụy. Thế là nhiều quyển sách văn học đến được với người đọc là tác phẩm đã được cắt xén, gọt giũa... |