Phóng viên (PV): Trong ấn phẩm mới nhất của mình, TS đã có một tập hợp những nghiên cứu so sánh suốt hơn 20 năm trên các hiện vật, hình ảnh mỹ thuật Việt Nam-một sự kiên trì theo đuổi công phu và cả sự tỉ mỉ cần thiết trong nghiên cứu khoa học. Anh có thể chia sẻ thêm về sức cuốn hút của chủ đề mỹ thuật khi đi sâu vào phương pháp nghiên cứu so sánh, những lợi thế (ưu điểm) và những thao tác cần thiết khi sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh với các bạn trẻ mới “vào nghề” nghiên cứu?
TS Trần Hậu Yên Thế: Ở Việt Nam “so sánh” hay bị hiểu một cách đơn giản là phương pháp nghiên cứu. Lĩnh vực nghiên cứu so sánh có hệ thống thuật ngữ, lý thuyết, đối tượng nghiên cứu và hệ thống phương pháp luận. Tên cuốn sách này có chữ “soi” thì mọi người đều dễ thấy nhưng chữ “so” mới thật sự quan trọng.
“So sánh” có thể “soi tỏ” những vấn đề của mỹ thuật Việt Nam. Ưu điểm của nghiên cứu so sánh là cách tiếp cận, là tầm nhìn mới, là cách nhìn mới, là tư liệu mới. Có câu nói hầu như ai cũng biết là “mọi so sánh đều khập khiễng” nhưng trong lĩnh vực nghiên cứu so sánh, “mọi thứ đều có thể so sánh”. Mục đích của so sánh ở đây không để phân biệt cao thấp, không luận hơn thua. Với nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam, rất cần và rất nên nhìn bằng cả con mắt thân quen và con mắt xa lạ. Đôi khi, vì quá thân thuộc, nên chúng ta đã không để ý tới một hiện tượng, một hành vi, một vật thể nào đó. Chẳng hạn như con nghê ở ngai vàng dùng để các hoàng đế đặt chân lên. Đúng là trong quyển sách “L’Empire d’Annam” (Đế quốc An Nam), viên đại úy Ch.Gosselin đã gọi sai là con rồng. Nhưng cách chú ý tới những tiểu tiết như vậy chỉ có thể là con mắt của kẻ lạ, rất có giá trị. Hoặc như, nếu đọc các tài liệu nghiên cứu nước ngoài về trống đồng, dù là tiếng Pháp hay tiếng Trung đều nói là con ếch. Nhưng phần đông sách vở chúng ta lại gọi là con cóc. Cuốn sách “Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc-Biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn” của nhà nghiên cứu Tạ Đức đã giúp tôi nhích thêm một bước tìm tòi thêm về loài ếch biển cổ xưa ở vùng duyên hải Biển Đông. Ếch hay cóc, hươu hay nai, giao long hay rái cá… những biểu tượng tưởng như rất “vặt vãnh”, hay bị bỏ qua, nhưng nó phản ánh não trạng nghiên cứu của chúng ta có phần dễ dãi và hay theo “quán tính đám đông”, thậm chí là quyền uy học thuật.
PV: Qua những bài viết rất công phu với tư liệu phong phú và cái nhìn đa chiều, có thể nhận rõ nền văn minh/văn hóa đã để lại những di vật quý báu và đang hiện tồn trên cương vực quốc gia dân tộc Việt Nam hôm nay đã có sự giao lưu, hỗn dung văn hóa không ngừng nghỉ trong suốt chiều dài diễn tiến - từ sơ sử đến lịch sử, vẫn đang hiện hữu trong đương đại. Và theo xu thế của quy luật sẽ còn tiếp tục diễn ra trong tương lai. Như vậy theo anh, có cái gì (gọi là) “thuần Việt” (100%) không và bản sắc văn hóa Việt được định danh trong mỹ thuật thế nào?
TS Trần Hậu Yên Thế: Dường như đã có lúc tôi bị gán cho là nhà nghiên cứu thuần Việt. Nhưng kinh Dịch, hoa sắt, sập đá, bia tiến sĩ, con nghê… những đối tượng mà tôi khảo sát đâu có phải của người Việt, chỉ riêng có của người Việt. Việt Nam ở vị trí địa chính trị tạo điều kiện cho chúng ta một cơ hội tiếp xúc với nhiều dòng chảy văn minh nhân loại. Hệ thống tôn giáo của chúng ta rất đa dạng. Sự đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa là lợi thế của chúng ta. Nhưng cần phân biệt giữa “lai-tạp” và “lai-tinh”. Cũng như phân biệt giữa một thùng nước vo (gạo) và một ly cocktail. Nếu chúng ta tiếp thu một cách vội vàng, không lựa chọn, không phân biệt vàng thau, thì chúng ta sẽ phải trả giá vì sự lai căng lai tạp đó. Họa sĩ Victor Tardieu đã cảnh báo điều này trong bản Báo cáo năm 1924 gửi Toàn quyền Đông Dương của ông. Chữ “lai tinh” khá giống âm tiếng Anh của chữ Lighting có nghĩa là “tỏa sáng”. Thế hệ Mỹ thuật Đông Dương giống như hoa thơm trái ngọt lớn lên dưới mưa Âu gió Á. Tôi nghĩ thay vì câu hỏi có “Thuần Việt không ?”, chúng ta cần đi tìm “Chất Việt”, “Nét Việt”, “Hồn Việt”…
PV: Cuộc “du hành” nghiên cứu “Mỹ thuật Việt Nam soi từ phía khác” của anh bắt đầu từ “Nghệ thuật Đông Sơn và hệ sinh thái duyên hải” (cách đây hơn 2.500 năm) đến “Chiếc veston của Chủ tịch Hồ Chí Minh và con tem của họa sĩ Nguyễn Sáng” (trong ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập), liệu anh có hàm ý gì khi chọn các mốc thời gian như vậy để bắt đầu và kết thúc cuốn sách của mình không?
TS Trần Hậu Yên Thế: Khi đọc lời bình phẩm về thói quen la cà và lười đi du ngoạn của người Việt, trong cuốn sách của Gosselin, tôi nghĩ rằng, nếu đó là bản tính cố hữu, là truyền thống của chúng ta thì chắc sẽ không có hình ảnh những con thuyền tưng bừng náo nhiệt trên trống đồng, không có hình ảnh những con ếch trên mặt trống và vô vàn hình ảnh vô số loài chim, loài cá. Sự kính ngưỡng rái cá phản ánh tâm thức của cư dân duyên hải ưa sự linh hoạt, nhanh nhẹn. Mở đầu cuốn sách bắt đầu về văn hóa duyên hải, tôi muốn nhấn mạnh đến một phương thức sống năng động, táo bạo của các cư dân biển. Nhờ học chữ Hán mà tôi mới biết chữ “bôn ba” liên quan đến sóng nước. Bài kết thúc viết về veston của Hồ Chí Minh mặc khi đọc “Tuyên ngôn độc lập” là một sự thật mà ít người được biết về vị lãnh tụ đã bôn ba qua “năm châu bốn biển”. Nếu Người chỉ như những người đàn ông an phận, theo nền nếp xưa, quanh quẩn trong con đường công danh khoa cử thì sẽ không có vị nguyên thủ Á Đông mặc veston-Người đã đọc “Tuyên ngôn độc lập” chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp. Vì cuốn sách chỉ tập trung vào các hiện vật nghệ thuật, là cái chúng ta luôn dễ dàng nhìn ngắm nhưng chưa chắc đã nhìn thấy. Con ếch trên trống đồng và con tem vẽ hình Chủ tịch Hồ Chí Minh của danh họa Nguyễn Sáng-ở hai bài viết đầu tiên và cuối cùng trong cuốn sách-là những điều nhiều người đã nhìn nhưng chưa chắc đã thấy (biết). Tôi muốn nhắc lại rằng, chúng ta cần nhìn sự vật bằng cả con mắt thân quen và xa lạ.
PV: Cảm ơn TS Trần Hậu Yên Thế. Chúc anh có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao trong tương lai!