Phố của những tiệm đồ sắt

Không chỉ ghi đậm dấu ấn trong lòng người dân tỉnh Cà Mau bằng những địa danh: Chùa Bà, Nhà dây thép, bến đò thợ Nhuộm hay nước đá đậu hia Dú… mà phường 2, thành phố Cà Mau còn gieo thói quen nơi người “đi chợ” bằng những con phố tập trung những nghề kinh doanh đặc trưng, theo kiểu “qua bên phường 2 mới có”!

Tiệm Quốc Tòng gốc vẫn nằm bên bến sông Cà Mau dù Quốc Tòng đã trở thành doanh nghiệp tư nhân bề thế ở phường 6.
Tiệm Quốc Tòng gốc vẫn nằm bên bến sông Cà Mau dù Quốc Tòng đã trở thành doanh nghiệp tư nhân bề thế ở phường 6.

Nghĩa tình thợ sắt

Trong ký ức của người dân phường 2 thì những cửa tiệm đồ sắt xuất hiện đầu tiên là trên đường Lê Lợi. Từ những năm đầu thập niên 80 đã có bảng hiệu của các tiệm sắt: Quốc Tòng, Phước Hưng, Châu Tân Phát, Đạt Hòa… Muộn hơn một chút là các tiệm: Thanh Hải, Khải Hoàn, Mậu…

Vốn có truyền thống cộng cư từ lâu đời nên người Kinh lẫn người Hoa khi buôn bán ở nơi đây luôn đề cao tinh thần tương thân tương ái, học hỏi lẫn nhau: chủ tiệm người Kinh học người Hoa ở sự kỹ lưỡng, tính căn cơ, trọng chữ tín, đầu tư cho con cháu; người Hoa học ở người Kinh sự cởi mở, chân thành cùng tấm lòng hào sảng.

Thời ấy, các tiệm sắt trên đường Lê Lợi, phường 2, TP Cà Mau chủ yếu chỉ sửa chữa và làm nông cụ, buôn bán hoặc sản xuất thêm một số đồ gia dụng kim loại. “Tôi học xong Trường kỹ thuật Cao Thắng về, mở tiệm sau chú Hải (tiệm Thanh Hải), sau chú Tòng (tiệm Quốc Tòng) một hai năm gì đó. Không phân biệt Hoa - Việt, tiệm lớn hay tiệm nhỏ, tiệm mở trước hay mở sau, những người thợ sắt không có khái niệm cạnh tranh, thậm chí tụi tôi còn chia sẻ bí quyết làm nghề cho nhau. Khi xong việc, chừng chín, mười giờ tối, chúng tôi tụ tập lại đi ăn khuya, thỉnh thoảng còn tổ chức lai rai, hát hò”, anh Lương Khải Hoàn (chủ tiệm cơ khí Khải Hoàn) thoáng tiếc nuối cảnh sinh hoạt đầy tình nghĩa của những người thợ sắt năm xưa.

Theo lời ông chủ tiệm Khải Hoàn, trên ba mươi năm trước, cả khu phố cơ khí chưa chật chội và đông đúc như hiện giờ. Mới có vài ba dãy nhà, phố vẫn chưa có vỉa hè. Trước mặt con đường Lê Lợi có con mương thoát nước lớn chạy dài, phải bắc cây cầu gỗ để ra ngoài đường. Bên phía chợ phường 2 thì tấp nập hơn. Ở thị xã Cà Mau lúc bấy giờ, chỉ có phường 2 là phồn thịnh nhất, nhờ vào ngôi chợ, chủ yếu là người Hoa mở tiệm để kinh doanh.

Ba mẹ của anh Khải Hoàn mất sớm, con đường lập nghiệp của ông chủ tiệm sắt Khải Hoàn vốn không phải là chuyện dễ dàng gì. Ban đầu, ít vốn liếng, anh chỉ có 10 m² đất để mở tiệm, rồi một mình lụi hụi làm những món đồ nho nhỏ, sửa chữa những nông cơ bị hỏng. Cứ dành dụm được đồng nào là anh lại đầu tư vào công việc kinh doanh, sản xuất của tiệm sắt, đến hơn 40 tuổi anh mới lập gia đình vì lúc đó mới “sực nhớ” ra mình chưa lấy vợ.

“Tiệm sắt nào trụ được tới giờ đều trở thành những doanh nghiệp tư nhân ăn nên làm ra. Cũng có tiệm phát triển thiệt lớn rồi bỗng dưng chuyển loại hình kinh doanh như tiệm Đạt Hòa, cũng có tiệm đóng cửa, trong lòng cũng thấy hẫng hụt, vì toàn là chỗ bạn bè quen biết lâu năm cả, nhưng biết làm sao hơn!”, nhìn cảnh phố phường buôn bán rộn ràng những ngày cuối năm, ông Nguyễn Văn Sơn (một cư dân ở phường 2) nói với giọng tiếc nuối.

Ông chủ tiệm sắt Khải Hoàn gắn bó với nghề sắt hơn 30 năm qua.

Tâm với nghề làm nên thương hiệu

Phố cơ khí ngày nay tuy đã thay đổi nhiều so với trước nhưng vẫn phảng phất bóng dáng những người thợ sắt cần mẫn năm xưa qua cách nghĩ, cách làm của thế hệ kế tiếp. Những thế hệ đầu tiên vẫn còn là chỗ dựa vững chắc cho con cháu trong nếp buôn bán, mở rộng quy mô sản xuất. Một trong những tiệm đầu tiên của con phố là tiệm Quốc Tòng của ông Trần Quốc Tòng, đã phát triển thành nhà máy cắt, ép, uốn tôn.

Theo nhiều người dân sống ở nơi đây, thì ông Trần Quốc Tòng là người ham học hỏi, khiêm tốn và kín tiếng. Tuy nhiên, ông là người sống có tình, có nghĩa.Vì vậy mà vẫn còn giữ chân được những người thợ làm cho mình từ những ngày đầu tiên đến giờ. Gắn bó gần 40 năm, có gia đình hai thế hệ cùng làm như gia đình anh Hùng, anh Xe, anh Đước, anh Cần...

“Buổi đầu khởi nghiệp ba tôi gian nan lắm”, anh Trần Quốc Phong (con trai ông Trần Quốc Tòng) kể: “Ba mang gia đình từ Tắc Vân xuống đây mở tiệm sắt. Ban đầu, mướn thêm một người thợ nữa cùng làm, cũng chỉ làm thùng thiếc đựng cá, thùng đậy máy Koleh, thùng tưới cây… Đến năm 1988, ba đã mở rộng nhà xưởng làm thêm máng xối, tol. Đến năm 2000, Công ty Quốc Tòng phát triển rất mạnh, sản xuất xe rùa, xe đẩy, tol sóng vuông. Lúc này, ngoài xưởng cũ bên khu nhà dây thép ba phát triển thêm xưởng ở dưới mé sông. Năm 2005, ba tôi mở thêm nhà máy cán tol, dập tôn bên phường 6”.

“Hồi mới mở tiệm, thấy thùng đậy máy đuôi tôm từ vùng trên chuyển xuống, chú mua vài cái về coi rồi cải tiến thêm, sau đó sản xuất đại trà, hoặc chú tìm tòi để cải tiến xe rùa, xe đẩy thuận lợi cho thói quen người dùng nên hàng của chú có mặt ở hầu hết các địa phương trong tỉnh Cà Mau từ đó cho đến nay”, ông Nguyễn Văn Thi (trưởng khóm 2 - phường 2) bật mí vài điều thú vị chung quanh ông Trần Quốc Tòng. Thời gian đó, sản phẩm của ông Trần Quốc Tòng được nhận ra bởi dòng chữ Thợ Thiếc Quốc Tòng in trên đó. Cho đến bây giờ, dẫu cho các sản phẩm từ thiếc chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong các mặt hàng ở đây thì “thương hiệu” Thợ Thiếc Quốc Tòng vẫn giữ một vai trò quan trọng trong việc kinh doanh của… tiệm sắt Quốc Tòng!

Giữ nghề - giữ hồn của phố

Ở TP Cà Mau ngày nay dễ dàng tìm thấy một tiệm đồ sắt, cùng rất nhiều xưởng sản xuất, các cửa hiệu chuyên về đồ sắt hay nhôm, ở bất kỳ nơi khác. Nhưng chỉ khi đặt chân đến phường 2, trên con đường Lê Lợi này, mới cho những “bạn hàng lâu năm” thứ cảm giác thân thuộc và cả vừa ý khi đặt chân vào một cửa tiệm đồ sắt bất kỳ (có khi không phải để mua mà chỉ để ngắm nhìn cửa tiệm cũ với người chủ tiệm cũ, rồi mừng thầm là “ổng” hoặc “bả” vẫn còn ngồi đó). Dẫu con phố Cơ Khí ngày nào (theo cách gọi của những người thợ sắt nơi đây) đã trở nên chật chội, ồn ào bởi hoạt động của các loại máy móc công nghiệp thì mầu thời gian vẫn còn lẩn khuất đâu đó ở nóc ngôi chùa Bà cổ kính; nhà dây thép vẫn còn đó nhắc nhớ về ký ức của thời chiến tranh; dạ cầu Mới vẫn còn những sạp trầu cau và trong gần 100 cửa tiệm đồ sắt nơi đây vẫn còn nhìn thấy sự góp mặt của những nông cụ gần gũi, dẫu cánh đồng đã ngày một thu hẹp lại.

Hơn ba chục năm qua, đối với những người thợ sắt đầu tiên của con phố ấy, nghề đã ngấm vào máu. Họ bền bỉ theo nghề không chỉ vì mưu sinh mà trong thầm lặng, họ đã tự nguyện làm người giữ hồn của phố.

“Vào buổi sáng mai, chợ nhóm chật hết đường cái từ cầu tàu ngó qua Ty Công Chánh đến rạp hát Huê Tinh: kẻ mua người bán tới lui rộn rịp, nhiều đến đỗi chen chân không lọt, người đi đường len lỏi dưới hàng ba của mấy tiệm buôn mà xê dịch khó khăn. Lúc sau này, có thêm một cái chợ lộ thiên nữa lập tại đập Kinh 16, là chỗ có bến tàu đò, cũng bán đủ thứ thực phẩm cần thiết: thịt heo, cá, rau cải, trái cây, nhiều nhất là tôm cua, giá rẻ hơn trên chợ.
Đêm đến, đèn điện “nê ông” thắp sáng trưng trên các đường sá, du khách dùng thì giờ nhàn rỗi đến hai rạp cải lương và chớp bóng “Huê Tinh”, “Huỳnh Long” đặng giải trí trong vài tiếng đồng hồ (hiện nay hai rạp này chưa tiện mở cửa lại).
Phía sau chợ tại công trường “Bạch Đằng” là các quán bán thức ăn và nhậu: cháo tiều, cháo cá, cháo gà, vịt, mì, hủ tiếu, chả giò, nem nướng, hột vịt lộn, đồ ngọt v.v... quy tụ khách đi dạo mát và tạo quang cảnh rộn rịp và vui mắt, làm cho người nào đã lìa khỏi Cà Mau trên 10 năm nay nhìn không ra bộ mặt cũ của quận xưa nữa”.
(Trích từ “Cà Mau xưa - An Xuyên nay”, tác giả Nghê Văn Lương)