Phở bà Gù

Ở con phố Lý Thái Tổ (Hà Nội) sầm uất này, hàng phở bà Gù trông thật giản dị. Không cửa hiệu, không biển hàng, quán của bà đơn giản có vài bộ bàn ghế nhựa xanh đỏ, một cái bếp than tổ ong hai ngăn đặt nồi nước chần bánh phở và nồi nước dùng mà bà quen gọi là canh, lúc nào cũng lăn tăn gợn bọt, nằm lọt thỏm trong cái ngõ bé tí, mỗi lần có xe máy đi ra đi vào, khách phải buông đũa, bỏ bát, đứng lên, ép sát người vào tường để tránh. 

Bao nhiêu năm nay, quán bà tồn tại, bất chấp sự cạnh tranh của biết bao hàng quán khác trên phố, chứng kiến biết bao lần khai trương rồi sập tiệm của các bạn buôn. Khách của bà hầu hết là dân phố và dân văn phòng trên phố này. Cánh văn phòng rỉ tai nhau: “Dân ở đấy dám ăn chứng tỏ là lành, không như mấy quán cơm gà màu mè toàn hút khách gần đó, mà dân phố kể là có cả thịt mốc xanh đỏ tẩm hóa chất”. 

Nắng cũng như mưa, nóng cũng như lạnh, quán bà mở từ lúc sáu giờ sáng và thường dọn hàng lúc chín giờ để nhường đất kinh doanh cho hàng cháo lòng cũng có thâm niên vài chục năm bán ca trưa. Khách ăn quen cũng vì giá phở rẻ hơn so phở Hàng Vôi hay phở Thìn gần đó. Nước phở trong, ngọt, không cần mì chính. Thịt bò cho mỗi suất cũng không nhiều nhưng chín mềm, tái ngọt. Bà bán toàn khách quen nên thuộc lòng khẩu vị mỗi người, hầu như cứ vào ngồi là không cần gọi. Chỉ khách ăn lần đầu hay muốn đổi vị mới phải nêu yêu cầu. Bà Gù cỡ bảy mươi tuổi, có cái bướu lạc đà gồ trên lưng, mắt bồ câu con đậu con bay, nói năng thì choa chỏa vậy mà quán hiếm khi ế hàng. Từ lâu, nhiều khách vẫn gọi đùa phở nhà bà là “Phở Tể tướng” sau cơn sốt phim “Tể tướng Lưu gù”.

Chạy bàn cho bà là cô cháu gái xinh đẹp, cao ráo, tuổi ngoài ba mươi và bà mẹ già - chị gái bà Gù. Bà Gù không chồng, không con, bán phở, nuôi mấy đứa cháu con chị ruột từ lúc nhỏ. Nhà bà ở sâu trong ngách, chắc chỉ tầm mười mét vuông, xây lên mấy tầng, mấy cô cháu ở chung bao nhiêu năm. Mỗi lúc hàng đông khách, bà cuống lên, quát cô cháu và bà chị bằng giọng the thé nhưng không phải kiểu chao chát như bà “Bún chửi” nên ai cũng thông cảm, không bỏ đi mà kiên nhẫn đứng chờ lượt khách ăn xong mới có chỗ ngồi. Cô cháu gái luôn tay luôn chân rửa, tráng bát trong ba cái xô nhựa đựng nước sôi, rồi lại bưng nước dùng từ nhà ra tiếp vào nồi canh trên bếp, đông khách, hết phở, hết thịt lại phải nhanh chân ra chợ mua về chế cho khách.

Ăn phở gần mười năm, mình mới biết tên bà là Tiến, nhưng chả ai gọi tên, toàn gọi “bà Gù”. Một dạo, dân phố bảo Chi - cô cháu gái mới lấy chồng, nhưng sau khi nghỉ một tháng, Chi lại quay về phục vụ quán. Từ đó đến nay, cô gái vẫn xinh đẹp, nhẹ nhõm, tươi cười với khách và “chịu” những cơn gắt gỏng của bà cô. Chi xinh đẹp đã là một phần không thể thiếu của quán phở này rồi. Đám đàn ông văn phòng ngồi húp phở hàng sáng vẫn quen thuộc với dáng mảnh mai của cô gái.