Nhung nho nhỏ khe khẽ nép bên cái bóng to xù của anh Nguyễn Thụy Kha. Suốt buổi, anh Kha khen rối rít thơ Nhung. Tôi tò mò và để ý đọc Nhung từ đấy. “Dần sáng” là tập thơ thứ ba của nữ nhà thơ quê Cẩm Khê (Phú Thọ), Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành.
Kim Nhung không ồn ào, những cuộc vui thường lặng lẽ, giống như thơ chị, kiệm lời, không phá cách ầm ĩ mà thầm thì giọng trà nhần nhận đắng, ngọt hậu, chất rượu vùng đồi trung du lắng men nồng, nhiều thi ảnh của lăng lắc xa xa ấu thơ, mẹ cha, thôn dã. Thơ Nhung không điệu đà, ít dùng mỹ từ, tên bài cũng tối giản… nhưng đẹp nhờ sự “dần sáng” của ngôn từ cứ hé dần trong độ mở đa nghĩa. Khung cửa hẹp, góc nhà xinh nhưng nắng vẫn lọt qua bền bỉ thắp khẽ một thứ ánh sáng đẹp đến thuần khiết. Và buồn! Nỗi buồn thầm kín: người vợ mặc lại áo/ hai vạt khép bóng đêm/ đôi vầng sáng miên man thầm tỏa/ sung một đời buông quả/ không chạm nổi đáy ao.
Đọc Kim Nhung để tĩnh lặng, vứt bỏ những bóng ảo, trở về tỉnh giấc trong giấc mơ gần kề, giấc mơ đã từng là hiện thực, gần gụi, thân mật. Đọc Nhung để hiểu cố hương không chỉ là chốn trở về mà còn là nơi mang theo tới những nẻo khác: mẹ đã sinh con tuổi ngựa/ xin hãy ru con bài hát xa nhà.
Kim Nhung xa quê từ khi bước chân ra Hà Nội học “Viết văn Nguyễn Du” và giờ định cư làm việc ở cái thành phố đã nhiều hơn những nhộn nhạo. Nhung “giữ mình” bằng cách xác lập một giọng quê từ hồn vía nhưng cũng mở lòng thích ứng với “mô-đéc”. Không gian hẹp chỉ loanh quanh vùng quê chị, đôi khi vươn ra ngoài chút Thành Huế, Tuy Hòa… rồi vẫn lại quay về như không thể rời xa đất đai “máu thịt”. Thật đúng với nhiều người viết, luôn ám ảnh nơi chôn rau cắt rốn. Nhung cũng vậy, chả thấy bao giờ thơ chị nhắc đến cái tên quê nhưng vẫn ăm ắp, khắc khoải một vòng quay cuộc đời: trở về - nỗi nhớ - xa cách… trong sự đồng hiện thơ bé, đồng hiện quê nhà. Không một từ nhắc đến tên quê, nhưng hình ảnh gò đồi, nắng quê, khu vườn xanh bóng lá… cứ đi đi về về quấn quýt: những thôi đường nắng dội/ mình ngả vào bóng nhau/ cây ngả vào bóng nắng/ bóng làng ngả về đâu.
Có lạc giữa khói bụi thị thành, diêm dúa bao sắc màu thay đổi chóng mặt thì vẫn nguyên sơ yên tĩnh trong veo giếng mát lành, thong thả buổi chiều hồn hậu… Loanh quanh không gian trung du, thứ không gian chả cần lớn tiếng đại ngôn thi tứ ầm ào mà rung ngân nhịp chuông trầm buồn. Những ảnh hình chứa ý niệm về sự trở về trong băn khoăn dằn vặt: chữ nghĩa dắt tôi đi/ xa hơn khu vườn của nội/ sao chưa đến được chân trời.
Nhà thơ viết về thành phố, những miền đất lạ… thì vẫn với tâm thức của người trung du, lòng thênh thang rộng lượng, bao dung; gói ghém nỗi niềm thôn dã vào thơ. Bài “Chớp mắt chiều” là một thí dụ với những câu tự vấn ngày về: người xới đất gọi tôi về tra hạt/ lưỡi cuốc nảy lên bí mật gò đồi/ tôi dại dột tra vào trống vắng/ để cuối đời bà thu hái hư vô/ tôi vẫn đi theo lối đàn bò/ và nhìn thấy mọi điều sau chúng/ những con bò một đời im lặng/ giấu vô hồi/ trong chớp mắt/ nhìn tôi.
Ký ức là điệu thức của hồi nhớ. Thiếu quê hương là điều không thể, đến nỗi chị phải thốt lên trong màu nắng hửng phía quê cha đất tổ: “nắng tìm quê để ấm”: ký ức có ngủ nơi lòng giếng/ mỗi lần nhớ về lại thấy mình rơi/ trong tiếng gầu va vỉa đá/ tháng tư sót lại ánh nhìn/ vẫn còn ấm/ trên màu nắng cũ.
Những nuối tiếc ngậm ngùi nơi khu vườn quê nội hóa thành thi ảnh đẹp, đẹp một cách ấm lòng trong chuyến trở về của người cháu xa: ai về khu vườn của nội/ cho tôi thăm lại luống cà/ và bông hoa chưa bao giờ kết trái.
Nghệ thuật thơ Kim Nhung là thứ nghệ thuật không phô trương, khoe mẽ, luôn ẩn kín nỗi lòng được gửi gắm vào những liên tưởng, câu chữ độc mà không cần điệu. Trong cả một bài đang xuôi xuôi dễ đọc, Nhung buông câu kết lạ khiến người đọc ngỡ ngàng: đêm vơi quá nửa/ thuyền chài thắp lửa nuôi khuya.
Đi lối riêng, không điệu đà nữ tính như nhiều nữ thi sĩ khác, Nhung hài hòa giữa tình và lý. Ở nhiều bài những cặp câu như thế đứng cạnh nhau mà nâng nhau lên: muôn sắc màu ẩn vào trong lụa/ cho ta ấm trước mỏng manh.
Kim Nhung có những câu xuất thần, không cần tạo dáng chữ nghĩa, đọc thấm thía sau lớp vỏ ngôn từ mộc. Đĩa ngũ quả trên ban thờ tiên tổ, trong tâm tưởng nữ thi sĩ đã không còn vô tri nữa: lòng ngũ quả chín dần vì hương khói/ bao nhiêu năm/ lại thắp đỏ đèn dầu.
Không chịu trong khuôn phép vần điệu, không xướng lên lối thơ “quảng trường”, mở nhịp riêng, ngắt nghỉ theo ý, chị sở hữu nhiều câu giản dị không bóng bẩy nhưng buộc người ta ngẫm ngợi: lời nào nghiêng ngả khói hương/ bụt đi vắng để tượng làm bia đỡ/ mọi nương nhờ xô lệch tiếng chuông.
Khi nói tiếng lòng mình trong những nghĩ suy về thân phận: núi đồi kề nhau vẫn lẻ/ đỉnh cao nào có thể chạm nhau/ mây trắng phơi một nỗi.
Lúc lại thi vị nghe như có tiếng reo thầm: cỏ đường khuya ngậm sương đợi sáng/ lối hoa xuân nở ngập ngừng/ đêm ba mươi lòng ai cũng rạng.
Kim Nhung không kể lể, chị tạo thơ bằng tứ. Bài “Bóng cha” là sự đồng hiện ảnh hình người cha đã mất trong bài dạy con bằng câu chuyện dung dị, những buổi rót rượu, pha trà mời khách; rồi mở biên độ rộng ra, sâu hơn về những gì cha con từng nếm trải. Bài thơ cứ vấn vít hình ảnh cha - con dung dị, không “làm” thơ nhưng nên thơ, ấm lòng, xúc động.
Đất Phú Thọ sản sinh và cưu mang nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi vượt ra khỏi xứ “Cọ”: Nguyễn Hữu Nhàn, Hoàng Hữu, Hà Phạm Phú, Nguyễn Tham Thiện Kế…, giờ là Kim Nhung… tiếp bước. Chị hay ở sự kiệm lời. Khi kiệm, Nhung vừa đủ tròn đầy. Sợ thiếu mà căng thơ ra, lời nhiều lên nhưng thơ lại bị thừa thãi! Nhưng thật may, số bài này ít thôi, không làm ảnh hưởng đến chất thơ Nguyễn Thị Kim Nhung đang “dần sáng” vào độ chín.
Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu hai bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Thị Kim Nhung
Bóng tối
khoảng trống chứa đầy bóng tối
khi người vừa quay đi
gió không nói gì
vẫn làm nghiêng chiếc lá
ta qua nhau
bóng thầm ngoái lại
núi không cần ai gục ngã
để mình đứng lên
vẫn dịu dàng nâng đỡ cỏ cây
hoa nở vì lòng không vướng bận
như giọt sương sót lại nơi kẽ lá
ta giữ ánh sáng nhỏ trong mình
không phải để long lanh
nơi chất đầy bóng tối
sẽ lấp kín lối vào
tôi không muốn lòng mình khép lại.
Bóng cha
mỗi ngày con lại giống cha hơn
từ điều con từng chối bỏ
người hàng xóm sáng nay lại đến
mắt chìm vào hũ rượu cạn khô
thói quen khiến chúng ta không thể giấu mình
con đã viết về cha
với những điều xa lạ
như kẻ không uống rượu
viết về cơn say
con thay cha mời khách
tiếng bẻ củi hẫng lòng nước sôi
đâu đây tấm bé
cha dạy thử nước nghe trà
số phận thử cha bằng nước sôi lửa bỏng
số phận thử con trong băng lạnh lòng người
cha nóng nảy nửa đời rồi im lặng
con ấm dần từ che chở bóng cha
ban mai nào đưa cha về lại
nắng cuối đông trong như rượu gạo.