Nhà thơ & Bài thơ hay

Thơ của những thương buồn

Trong các cây bút người dân tộc thiểu số hiện nay, tôi thấy không nhiều người giữ được một tâm hồn bản địa thuần ròng như trường hợp nhà thơ Hữu Vi (Vi Văn Choồng) - người dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An.

Ký họa chân dung nhà thơ Hữu Vi của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.
Ký họa chân dung nhà thơ Hữu Vi của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Không phải chỉ nhìn vào việc hiện anh sống và viết tại một bản người Thái rất xa thuộc miền Tây xứ Nghệ (huyện miền núi Con Cuông cũ), mà chủ yếu căn cứ vào những cái viết của anh: truyện ngắn, ký, báo chí, đặc biệt là thơ. Thơ là nơi chưng cất điệu hồn người trai bản, thi sĩ Hữu Vi.

Một cảm nhận đầu tiên khi bước vào thế giới thơ Hữu Vi chính là một nỗi thương buồn dìu dịu, lan tỏa, tưởng rất nhẹ mà thấm. Như sương sa, bảng lảng rồi đọng thành hạt. Hạt sương khi rỏ vào lòng người đọc đủ để rùng mình.

Đầu tiên là nỗi thương thân.

Trong vai một người trai bản, tâm hồn luôn ôm một nỗi khát yêu. Phải thôi. Lòng trai tuổi đôi mươi nào chẳng vậy. Nhưng trong trường hợp này, toàn thấy nỗi khát yêu không được đáp đền.

Nỗi khát ấy chỉ còn là mơ ước: Mơ tháng giêng mùa hoa nở/ Dắt tay em qua cầu bạc, cầu vàng (Anh sẽ về tháng Giêng hoa nở). Nỗi khát ấy mãi là tình đơn phương, đơn độc, tủi phận, kém may: Có ngôi nhà nơi triền đồi cao/ Đông lạnh cửa khép hờ đợi nắng/ Bốn chú trai đợi nàng nón trắng/ Người đà khăn xếp làm dâu... (Ngôi nhà nơi triền đồi cao). Trong vệt cảm xúc “thất tình”, bài thơ “Tàn lửa” là một đỉnh cao. Một khung cảnh bản làng miền núi. Chàng trai đốt đuốc kiên nhẫn ngồi dưới cầu thang chờ người mình yêu ra gặp. Nhưng người ấy đang vô tâm ngủ. Nhiều đêm như thế. Người trai vẫn cứ kiên nhẫn ngồi đợi suốt đêm. Trời sáng, đành phải về, người trai dụi đuốc vào bậc cửa, vào vạt cỏ, để lại một chút tàn tro như một vật chứng của tình yêu. Đáp lại, chỉ là sự im lặng tuyệt đối. Do người con gái ấy “vô tâm”, hay không thèm biết đến lòng người con trai ấy? Đã thế, trớ trêu thay, cái vật chứng mà chàng trai để lại như một thông điệp thống khổ cuối cùng của tình yêu cũng bị đàn chim núi nhặt hết, xóa hết: Sáng ra chim núi/ Nhặt hết tàn rơi/ Em tôi dậy muộn/ Lửa bay về trời. Một thực tại bị tẩy trắng. Tuyệt vọng và cay đắng. “Lửa bay về trời” là một cách nói thơ, ngậm đầy thi tính. Một hình ảnh lộng lẫy thương buồn. Tôi cho rằng “Tàn lửa” xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ Việt Nam đương đại.

Tiếp đến là nỗi thương người, mở lòng về phía người khác, phía tha nhân.

Nhà thơ Xuân Diệu từng ví tâm hồn thi sĩ tựa như một thứ ăng-ten bén nhạy thu bắt được những vùng sóng muôn nỗi của cuộc đời. Theo hình dung thế, tâm hồn nhà thơ Hữu Vi đặc biệt mẫn cảm với những phận người muôn nỗi. Đây là phận bạc của người thiếu phụ: Sang xuân em xuống cầu thang/ Đi về khoảng rừng vắng lặng/ Ven đường có đôi bướm trắng/ Tiễn hồn em lên Then... (Cầu thang). Nhìn một người con gái đang ngồi thêu váy, thi sĩ không hình dung đó có thể là một khung cảnh hạnh phúc, mà chỉ tưởng tượng theo hướng âu lo về một nỗi tàn phai: Làng bên có người chiều nay/ Theo sắc hoa vào hội/ Quên đường về// Qua xuân lá hoa còn tươi tắn/ Trên bàn tay thêu? (Em ngồi thêu váy). Âu cũng là cái cơ chế tâm hồn đặc biệt của người nghệ sĩ... Tương tự, nhưng lần này là một nỗi thương nhớ mẹ cha, quê hương nguồn cội trong một lần nhà thơ đang ở rất xa: Ngõ quê vắng quá/ Sao thương mẹ già...// Cha thời khuất núi/ Như cánh hoa tàn/ Mẹ thời tất tả/ Niềm lo vô vàn... (Tâm tình cùng hoa). Một tâm hồn luôn bén nhạy với những thương buồn như vậy, nên nhìn ra cảnh quan thiên nhiên hoa cỏ cũng thấy chạnh lòng: Ngày xuân ngỡ xa lắm rồi/ Tháng hai rắc buồn nẻo núi/ Cánh đào như chưa rụng vội/ Cuối cành níu lại thanh tân (Tháng Hai). Có người làm thơ rất thạo nói về cái khổ. Có người giỏi nói về cái phôi pha. Lại có người chỉ thích nói về cái vui, cái tươi trong... Hữu Vi dường như bị ám bởi những cái tủi phận thương mình, thương người, nỗi thương tràn ra cả ngoài khung cảnh. Thương buồn chính là điệu hồn thi sĩ Hữu Vi.

Không khó nhận ra trong thơ Hữu Vi một không gian núi rừng, bản làng thân thuộc người Thái mà thi sĩ thuộc về. Tôi còn thấy Hữu Vi rất hay nói về “cõi Then”, “về Then”, “lên Then” gắn liền với hồn, vía con người - một dấu chỉ tiêu biểu của văn hóa bản địa Thái. Ra giêng em về nhà chồng/ Tim anh bỗng có lửa đốt/ Ra suối tìm đám rêu cũ/ Tìm hòn cuội xưa/ Thấy dáng người trong làn nước/ Mà như xa tận cõi Then (Anh sẽ về tháng Giêng hoa nở) - lại một nỗi thương buồn của lòng trai yêu đương lận đận. Then, nghĩa là Trời, một thế giới ngàn trùng xa cách, một cõi tâm linh chở che linh hồn người đã khuất. “Lửa bay về trời” có phải là nơi cuối cùng dung nhận, an ủi lòng người trai cô độc...

Cần nói thêm, tâm hồn bản địa Hữu Vi không hề khép kín, mà luôn biết mở ra, bắt nhịp, sống cùng. Nhờ thế, thơ Hữu Vi tràn đầy thi liệu, hình ảnh nhân học tộc người mà lại mang nhịp thở của cuộc sống đương đại. Tháng hai ngực người thiếu phụ/ Đêm nằm phấp phỏng gió nam/ Thơm tho chi làn hương cũ/ Vách treo hờ hững váy chàm... (Tháng Hai). Chẳng phải đó là một cái nhìn căng tràn nhục cảm tính nữ hiện đại đó sao! Thêm nữa, Hữu Vi rất có ý thức lập tứ và triển khai tứ thơ, khiến mỗi bài thơ vừa kiệm lời vừa gợi nghĩa. Bài thơ “Tàn lửa” không hề cầu kỳ chữ, hình ảnh, giản dị toàn phần mà vẫn hiện đại, tươi mới.

Có một lần, gặp Hữu Vi, tôi bảo: “Sao cậu có cái tên Vi Văn Choồng cha sinh mẹ đẻ đặt cho hay thế không giữ làm bút danh mà lại Hữu Vi?”. Nhà thơ cười hiền, không nói gì. Có phải một niềm tự tín: Hữu Vi = Có Tôi, có tôi giữa cuộc đời này! Nếu thật như thế, kể cũng xứng đáng. Sáng tạo văn chương lạ lắm, có khi chỉ cần một bài thơ đã đủ định vị tác giả sinh ra nó trong trường văn trận bút không bến bờ này. Hữu Vi là một trường hợp như thế!

Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu 2 bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Hữu Vi

Tàn lửa

Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa.

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
Quay về đi thôi

Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi vào vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Sáng ra, chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời.

minh-hoa-nguyen-minh.jpg
Minh họa | NGUYỄN MINH

Ngôi nhà nơi triền đồi cao

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Mùa xuân cửa phập phồng gọi nắng
Một chú trai mong nàng nón trắng
Nàng đương theo hội tung còn.

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Hạ về cửa bung hong nắng
Hai chú trai ngóng nàng nón trắng
Nàng còn lên núi trỉa nương.

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Thu sang cửa mở toang đón nắng
Ba chú trai chờ nàng nón trắng
Nàng đương gặt lúa chưa về.

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Đông lạnh cửa khép hờ đợi nắng
Bốn chú trai đợi nàng nón trắng
Người đà khăn xếp làm dâu...

Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Xuân sang cửa phập phồng gọi nắng...

Có thể bạn quan tâm

Ký họa chân dung nhà thơ Lữ Mai của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Những phức cảm thơ

Nhận diện một gương mặt tác giả chưa khi nào là một công việc dễ dàng. Và lại càng khó khăn hơn khi tác giả ấy có một lịch sử thực hành thơ luôn biến hóa, năng sản, phong nhiêu. Nhà thơ Lữ Mai là một người như thế...

Ký họa chân dung nhà thơ Lý Hữu Lương của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Căn tính Dao LÝ HỮU LƯƠNG

Theo như tự thuật của nhà thơ, những người dân làng quê nơi anh sinh ra không hề có một ý niệm gì về thơ, về nhà thơ, về thi sĩ mang tên Lý Hữu Lương. Trong cái nhìn của dân làng, anh chỉ là một trai bản, một người con xa quê, một anh bộ đội.

Ký họa chân dung nhà thơ Vi Thùy Linh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình

Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Nhật Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Trần Nhật Minh - Thơ và những cuộc du chơi

Đã từng làm việc ở Ban Văn học - Nghệ thuật - Âm nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trần Nhật Minh quen biết, giao du với nhiều văn nghệ sĩ. Minh không chơi thì thôi, đã chơi thì luôn hết lòng với bạn.

Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hùng Vĩ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Em đem mùa hạ rót vào mùa đông”

Những đêm mùa đông chờ Xuân, nơi căn phòng nhỏ ấm, lũ sinh viên nghèo lại quây quần quanh thầy Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ), một ông giáo hồn hậu, quê nghèo lam lũ xứ Nghệ, luôn trọng nghĩa trọng tình.

Nhà thơ Vân Anh.

Thơ Vân Anh “mặc định nhịp trẻ”

Dễ thấy lâu nay, người viết khi cho in tuyển tập đồng nghĩa với việc gom lại, khép lại quá trình sáng tác. Nhưng cũng có người sau đó vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm, không phải “út, ít” bòn mót, mà là những “đứa con” bụ bẫm, khỏe mạnh, ai cũng tấm tắc, trầm trồ.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Hoàng Thiên Kim của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vì yêu mà thao thức

Trần Hoàng Thiên Kim là cái tên không xa lạ với công chúng ở các lĩnh vực báo chí, truyền hình, nghiên cứu văn học hay thơ ca.

Ký họa chân dung nhà thơ Ngô Thanh Vân của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Em và phố và thơ

Ai đó đã từng nói: thơ là bản tự thuật của tâm hồn. Thật thế. Ngoài đời, con người có thể phần nào che giấu được mình, nhưng trong thơ thì không.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Thị Hương Ly của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Cõng lời thương trên lưng

Nữ nhà thơ Phùng Thị Hương Ly sinh ra và lớn lên ở Bắc Kạn, người Tày, học ngành viết văn, sau ra trường làm báo, hiện sống và viết tại quê hương. Một phác thảo lai lịch như thế cho thấy hai điểm quan trọng: người thơ ấy có một vốn liếng hết sức tự nhiên, sống động về nơi chốn mình, dân tộc mình và được đào tạo bài bản trong môi trường viết.
Ký họa chân dung nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

NỒNG NÃ HƯƠNG VỊ MIỀN CHÂU THỔ CHÍN RỒNG

Nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều sinh ra và lớn lên ở chính giữa lòng châu thổ Cửu Long. Hiện chị cũng sống và viết tại đây. Như thế, tức là cả đời “ăn chịu” quê hương, xứ sở. Như nắng như gió, như đất như cây, như điệu ca vọng cổ, thơ Huỳnh Thúy Kiều cứ thế cất lên tự nhiên, đậm hương, nồng vị và lan tỏa.
Ký họa chân dung nhà thơ Đào Quốc Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh

Những năm gần đây, cái tên Đào Quốc Minh trở nên khá quen thuộc trong văn giới và bạn đọc. Anh viết và xuất bản đã có đến năm sáu tập thơ; tập gần đây nhất là “Phục sinh” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024) với dung lượng khá lớn, 180 bài.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Quả thơm thì ở lại”

Người ta vẫn thường hay nói nhà thơ không có tuổi. Đó là một cách nói vui, lãng mạn, nghiêng về phía an ủi nhau. Thật ra, ai cũng vậy thôi, nhà thơ cũng như tất thảy chúng sinh, không tránh khỏi quy luật của tự nhiên. Tất thảy chúng ta già dần dần, đi theo quy luật của muôn đời: sinh, lão, bệnh, tử… không thể khác.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Kim Hoa của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những ký ức cất lời

Trần Kim Hoa làm thơ dễ đã 30 năm có lẻ. Và đã ra được 3 tập thơ riêng đầy đặn, trong đó tập Bên trời gần đây nhất đã được trao Giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt nam (2020). Trong vòng ngần ấy thời gian, với 3 tập thơ, cho thấy tác giả không phải là người ham chạy theo số lượng.
Ký họa chân dung nhà thơ Đoàn Văn Mật của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Sáng lên từ những nhỏ nhoi”

Cho đến nay, Đoàn Văn Mật đã trình làng ba tập thơ, tập gần đây nhất là “ Ngoài mây trời đầy trống vắng ” (NXB Hội Nhà văn, 2023).
Ký họa chân dung nhà thơ Kiều Maily của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ, hoa của người

Trong bài thơ mang tên “Nàng, hoa của cát” (đồng thời cũng được lấy làm tên cho tập thơ, NXB Hội nhà văn, 2019), nhà thơ Kiều Maily đã có những câu thơ như thể tự họa về mình: Nàng, hoa của cát/ yếu đuối giữa men tình/ kiêu hãnh với cô đơn/ nỗi mơ cuốn nàng về miền hạnh phúc/ Nàng, hương của đất/ chắt chiu giọt phù sa nuôi nấng đời cây/ hẹn mùa gieo hạt. Bài thơ có ba chủ thể: nàng, hoa và cát trong mối quan hệ gắn bó, ràng rịt với nhau.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Ngọc Mỹ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhủ lòng vượt lên những phôi pha

Một người làm thơ trẻ thông thường hay lựa chọn một cách thế sống cùng, sống giữa, đồng hành với thế hệ mình và với đời sống hôm nay trong tất cả sự bề bộn, phức tạp và sống động của nó.
Ký họa chân dung nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Phạm Thị Ngọc Liên: Người đi tìm chân dung tình yêu

Tròn 20 năm, nữ thi sĩ Phạm Thị Ngọc Liên mới trở lại thi đàn bằng tập thơ dày dặn mang tên “Trong tôi có nhiều tôi” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn). 99 bài thơ kết thành một “con đường thơ” với biển chỉ đường là “Tình yêu”. Phải, tất cả đều là thơ Tình, của một người đàn bà hồn nhiên, đa đoan, sẵn sàng “nhắm mắt đi trên cầu thăng bằng/ nồng nàn/ liều lĩnh” để tìm cho được chân dung của Tình yêu, hay là chân dung thân phận con người.
Ký họa chân dung nhà thơ Thy Nguyên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thy Nguyên - Người đàn bà làm thơ buồn

Thơ gắn với buồn từ khi nào, có lẽ từ lúc thơ bắt đầu. Buồn là một phẩm chất của thơ, là một phẩm chất của đời sống con người vốn mong manh hữu hạn, nhiều bất toại hơn như ý. Người cầm bút tìm đến thơ như một cách để cất giấu, lại như một cách để phơi bày nỗi buồn trên mặt giấy. Ðể tìm kiếm một sự đồng cảm, tìm kiếm tri âm. Thy Nguyên là kiểu người làm thơ như vậy, “chơi” với buồn, và “phơi” nỗi buồn, không đắn đo giấu giếm.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hồng của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những xuân thì

Nguyễn Hồng là một cái tên dường như đã quen trong đời sống văn học hiện thời. Chị khá chắc tay trong nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, thơ. Riêng với thơ, chị đã cho in tập “Ví dụ anh” (2016), và đã đăng rải rác khá nhiều bài thơ lẻ trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Một dáng vóc thơ dần được định hình...
Minh họa trang thơ: ĐẶNG TIẾN

Trang thơ

Nhân Dân hằng tháng xin giới thiệu cùng độc giả trang thơ Tết.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Khắc Bắc của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường

Phùng Khắc Bắc, "Một chấm xanh"

Vào quãng năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, khi đang làm nghiên cứu sinh ở Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi thấy trong văn giới xôn xao bàn tán về một tài thơ rất lạ mới có 47 tuổi vừa mới khuất. Đó là nhà thơ Phùng Khắc Bắc, tác giả tập thơ duy nhất mang tên “Một chấm xanh” do NXB Quân đội nhân dân phát hành cuối năm 1991.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nguyễn Hoàng Sơn, thơ viết cho thiếu nhi và...

Bạn đọc yêu thơ ngay từ thập niên 80 của thế kỷ XX đã biết đến một cây bút viết thơ cho thiếu nhi mang tên Nguyễn Hoàng Sơn. Lúc ấy, thơ viết cho thiếu nhi nổi bật nhất vẫn là một số cây bút quen thuộc, thế hệ đàn anh như Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải... Cái tên Nguyễn Hoàng Sơn cùng vài cây bút thế hệ anh như Phạm Đình Ân, Trương Hữu Lợi, Mai Văn Hai... mới bắt đầu thấp thoáng.
Ký họa chân dung thi sĩ Văn Cao của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Văn Cao: "Ngày đêm làm ngọc"

Trong các ấn phẩm về thơ Văn Cao đã xuất bản, chỉ thấy chừng chưa đến mươi bài thơ được viết từ năm 1939 đến năm 1942.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Thúy Hạnh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nguyễn Thị Thúy Hạnh: Làm thơ, làm chữ

Trong số những nhà thơ trẻ (xuất hiện ở độ tuổi dưới 35) hiện nay, có một số cây bút rất quan tâm đến việc đổi mới thơ theo cách bắt đầu bằng việc dụng chữ, làm chữ, biến/đổi chữ. Nguyễn Thị Thúy Hạnh là một cây bút như vậy, ngay từ đầu, nhất quán và công khai tư duy về chữ, “di chữ”, “sống lời”, đã xác lập một quan niệm về thơ lấy chữ/ngôn ngữ làm trung tâm.