Căn tính Dao LÝ HỮU LƯƠNG

Theo như tự thuật của nhà thơ, những người dân làng quê nơi anh sinh ra không hề có một ý niệm gì về thơ, về nhà thơ, về thi sĩ mang tên Lý Hữu Lương. Trong cái nhìn của dân làng, anh chỉ là một trai bản, một người con xa quê, một anh bộ đội.

Ký họa chân dung nhà thơ Lý Hữu Lương của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.
Ký họa chân dung nhà thơ Lý Hữu Lương của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhưng nhìn từ dân tộc Dao nói chung, Lý Hữu Lương hẳn có chung một ngôn ngữ, một lịch sử (cho dù truyền thuyết), một nếp phong tục tập quán ứng xử mang bản sắc riêng. Anh là một cá thể trong cộng đồng bản địa Dao. Nhưng anh cũng mang chở cả một lịch sử và di sản Dao trong máu của mình.

Thế nên, việc anh trở thành thi sĩ và những vần thơ anh cất tiếng không chỉ là ý chí cá nhân mà còn là tinh hoa bản địa Dao, căn tính Dao hợp lại mà thành. Nó vừa là hữu thức, vừa là vô thức (ít nhất là vô thức cộng đồng) chi phối, can thiệp, kiến tạo nên một thi-sĩ-Lý-Hữu-Lương như đang là...

Trong thơ Lý Hữu Lương, niềm quan tâm tha thiết nhất của anh là tìm về và định vị căn tính dân tộc Dao trong không gian sinh thái và văn hóa, một thứ không gian hòa quyện với thời gian hồi nhớ và suy tưởng miên viễn. Cảm quan không gian của nhà thơ Lý Hữu Lương dường như nổi trội và bao trùm.

Thơ Lý Hữu Lương đã xác lập một không gian rộng và sâu. Có không gian núi rừng gắn liền với làng, có không gian nhà, và đặc biệt là không gian tâm linh. Ở không gian toàn cảnh, tác giả đã phác họa ra một nơi chốn miền rừng: Núi cao, thung lũng, con suối và một ngôi làng nhỏ, nhỏ đến mức chỉ có ba nhà cư tụ. Đó là ngọn núi Bàn Mai cao chất ngất, nơi con người tựa vào để sống, có đỉnh núi mù sương vừa bí mật, vừa thách thức. Đó là một ngôi làng nghèo khó, lam lũ, xa vắng, con người phải bám vào đất để kiếm cái ăn. Ở đó, người Dao nối đời làm nên địa danh, làm nên lịch sử và văn hóa bằng tiếng nói của mình. Trong thơ Lý Hữu Lương, tác giả không thôi thao thức về nguồn cội, một dân tộc “di dân”, “ly hương”, vừa níu giữ di sản cha ông ,vừa không ngừng tự nới rộng để xác lập căn cước dân tộc mình. Đi theo hướng này, nhà thơ đã dựng lên một chiều không gian nữa: Không gian tâm linh, nơi tổ tiên ông bà, nơi ký ức cộng đồng được lưu giữ, những chuyến vượt biển, băng rừng, nơi các tập tục, tín ngưỡng, lối sống như một phần của hiện tại, hôm nay.

Tôi rất ngạc nhiên và lấy làm thú vị khi nhà thơ Lý Hữu Lương chỉ ra một đặc điểm trong căn tính Dao: một dân tộc coi trọng và bằng lòng sự “vừa đủ” như một triết lý sống. Hãy nghe nhà thơ lên tiếng: Người Dao mình/Không biết giận cái nhỏ/ Không tham nghĩ cái lớn/ Thương sức mình núi chật/ Mà nghĩa tình thủy chung (Người Dao); hoặc: Người Dao không tắm trên sông to/ Không gieo trồng trên những cánh đồng lớn (Bài hát cũ). Đã gọi là đặc điểm, cốt để nhận biết, chứ không nghiêng về định giá. Nhưng nhà thơ Lý Hữu Lương, một người con được sống rộng dài cùng đất nước đã không ngừng chất vấn về căn tính dân tộc mình. Ở phía này, anh không giấu niềm kiêu hãnh: Rừng chưa bao giờ để con của nó chết đói/Như là sinh mệnh/Rừng để chúng tôi cưỡi trên vai/Rừng là sinh mệnh của chúng tôi/Và chúng tôi trường tồn qua ngàn vạn biến thiên/Cứ để văn minh nằm ngoài kia dãy núi/Chúng tôi không có nhiều máu để đổ xuống (Sinh mệnh). Nhưng ở phía khác, anh cũng thao thức, chất vấn với căn tính như một giá trị hằng định: Trong tiếng nói cha ông truyền lại/Không có từ đại/Dân tộc tự mình không th đại (...)/ Một dân tộc nhỏ trên đầu ngàn trái núi lớn/Chúng ta vẫn tự mình nh hơn mình/Từng kiếp/Từng kiếp... (Thượng cổ). Một dân tộc được/bị coi là nhỏ, thường được hiểu theo nghĩa ít người hơn so với dân tộc khác. Nhưng cũng có thể hàm nghĩa: nhỏ/yếu về “dân trí, dân khí, dân sinh”. Cái nhỏ trước thuộc về cơ học. Cái nhỏ sau thuộc về năng lực, tự làm mình nhỏ bé đi so với khả năng thực của chính mình. Tôi cho rằng đây là một tự vấn mang tính cách trí thức. Nếu tự bằng lòng với những gì của truyền thống, không có khả năng tự nhận thức, tự phản tỉnh sẽ không có tiến bộ. Một trong những phẩm chất của thi sĩ chân chính phải có tư cách trí thức, hiểu theo nghĩa luôn biết chất vấn đời sống, chất vấn chính mình. Lý Hữu Lương là một người như vậy.

Trở lại thơ Lý Hữu Lương, trong một cái nhìn cận cảnh hơn, không gian nhà (gia đình) hiện lên với những dáng hình thân thuộc của gian chái bếp, ngọn khói, bồ hóng, máng nước sau nhà... Ngôi nhà có bóng mẹ sớm hôm: Cho tôi về chái bếp nhà tôi/Củi lửa non đêm đầy sương giá/Tiếng ngô giòn tiếng mẹ giòn hơn (Chái bếp). Ngôi nhà còn là một không gian tình tứ, nơi khởi lên những lòng yêu: Này em đã thu ngô lên giàn/Anh trai đã chêm xong cán nỏ/Nhà ngang sao anh ngồi/Cho một góc buồng thức (Páo dung em hát mấy câu rồi?). Câu thơ thật gợi. Nói “góc buồng thức” là một cách nói ẩn dụ, cách nói của thơ về một lòng trai đang bị lửa tình thiêu đốt... Tất cả không gian nhà ấy đã khiến người đi xa, chủ thể trữ tình phải thốt lên: Ôi trí nhớ cứ bùng như lửa/Cơm nếp đồ thơm mùi lá dong gói/ Trong tiếng nước máng xối sau nhà/Có em về sau ngày nương rẫy (Bông áo đỏ). Khi người ta nhớ về, nỗi nhớ hiện hình rất cụ thể, sống động, trực quan. Những hình ảnh, chi tiết tưởng như bé nhỏ, li ti ấy chính là chiều sâu thẳm của nơi chốn, tuổi thơ mà chủ thể thuộc về. Cũng nhờ chúng mà làm nên vẻ đẹp và sự sống động của mỗi câu thơ.

Như ban đầu đã nói, bà con chòm xóm quê anh không hề biết anh là một nhà thơ. Với Lý Hữu Lương, điều đó không hề quan trọng. Việc anh làm thơ như một nhu cầu tự nhiên của nội tâm? Rất đúng, nhưng chưa đủ. Anh làm thơ dường như còn là một “ủy nhiệm” của nơi chốn, dân tộc mình trao gửi: Trời cho ta làm thơ/vỗ về những người tuổi trẻ/mang ơn những người tuổi già/cúi xin mẹ cho ta được khóc/đêm thâu thâu tiếng ma gọi bạn/trước đường mây vẽ sáng chân đồi (Phả hệ). Thơ như một ký thác.

Chẳng thế mà Lý Hữu Lương hân hoan một sứ mệnh tự nhiệm: Tôi xin làm con chim nhỏ làng tôi/Cất giọng vang sâu xa rừng thẳm/Ngực nóng từng lần thơm trước gió/Mang khuôn mặt làng rải khắp muôn nơi (Khuôn mặt làng).

“Con chim nhỏ của làng” ấy đã mang tiếng thơ kết nối căn tính Dao với rộng dài đất nước...

minh-hoa-mai-xuan-oanh.jpg
Minh họa | mai xuân oanh

Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu 2 bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Lý Hữu Lương

PÁO DUNG EM HÁT MẤY CÂU RỒI?

Đuôi mắt

cong lá ngô non

Cứa vào ai mà sắc lẹm

Páo dung em hát mấy câu rồi?

Ới à

bên đồi này con trai

Ới à

bên đồi con gái

chúng nói thương nhau

tay kéo vào thung

tiếng cười cứ dài theo mó nước

Ới à

Này em đã thu ngô lên giàn

Anh trai đã chêm xong cán nỏ

Nhà ngang sao anh ngồi

Cho một góc buồng thức

Ới à

hoa quế nhà ai treo cửa

để thơm

thơm mấy lối về?

BÀI HÁT CŨ

Bài hát tôi nghe mẹ hát lúc nhỏ
Khi mây đã ngủ khắp dẻo Bàn Mai
Im lìm cánh tò vò trên liếp vách
Bài ca nguyên thuỷ của tình yêu và gốc tích

Người Dao sợ những dòng sông to
Người Dao sợ những cánh đồng lớn
Dòng sông to trôi nhanh ký ức
Ta sẽ quên hết
Hạt giống đầu tổ tiên gieo ở núi Cối Kê
Mảnh vườn cày cấy đầu xuân mấy mùa no đủ
Truyền thuyết như đóa hoa nở giấc tươi đẹp

Lời hát ấy đã hát từ ngàn xưa
Tự thủa Bàn Hồ sinh ra mười hai họ
Lời hát thăm thẳm mông mênh
Đêm ngày ủ trong ngực ấm đàn bà Dao
Đi bốn phương tám hướng không bặt nhịp
Ơi ới là... Ùa à pờ...
Bài hát chở che con ta qua mùa rét mùa đói
Mở lối con ta tìm ra ngoài kia thế giới
Dẫn đường con ta về với tổ với tông

Dưới mây vùi trầm tích cố hương
Bài hát mười hai nhịp hóa sừng trâu mười hai khoanh
Tổ tiên chia cùng lời hẹn năm trăm năm trở về đất cũ
Nhắn người đến sau ta năm trăm năm nữa
Hãy nhớ lời hát của mẹ cha xưa
Người Dao không tắm trên sông to
Không gieo trồng trên những cánh đồng lớn...

Có thể bạn quan tâm

Ký họa chân dung nhà thơ Vi Thùy Linh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình

Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Nhật Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Trần Nhật Minh - Thơ và những cuộc du chơi

Đã từng làm việc ở Ban Văn học - Nghệ thuật - Âm nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trần Nhật Minh quen biết, giao du với nhiều văn nghệ sĩ. Minh không chơi thì thôi, đã chơi thì luôn hết lòng với bạn.

Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hùng Vĩ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Em đem mùa hạ rót vào mùa đông”

Những đêm mùa đông chờ Xuân, nơi căn phòng nhỏ ấm, lũ sinh viên nghèo lại quây quần quanh thầy Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ), một ông giáo hồn hậu, quê nghèo lam lũ xứ Nghệ, luôn trọng nghĩa trọng tình.

Nhà thơ Vân Anh.

Thơ Vân Anh “mặc định nhịp trẻ”

Dễ thấy lâu nay, người viết khi cho in tuyển tập đồng nghĩa với việc gom lại, khép lại quá trình sáng tác. Nhưng cũng có người sau đó vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm, không phải “út, ít” bòn mót, mà là những “đứa con” bụ bẫm, khỏe mạnh, ai cũng tấm tắc, trầm trồ.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Hoàng Thiên Kim của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vì yêu mà thao thức

Trần Hoàng Thiên Kim là cái tên không xa lạ với công chúng ở các lĩnh vực báo chí, truyền hình, nghiên cứu văn học hay thơ ca.

Ký họa chân dung nhà thơ Ngô Thanh Vân của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Em và phố và thơ

Ai đó đã từng nói: thơ là bản tự thuật của tâm hồn. Thật thế. Ngoài đời, con người có thể phần nào che giấu được mình, nhưng trong thơ thì không.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Thị Hương Ly của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Cõng lời thương trên lưng

Nữ nhà thơ Phùng Thị Hương Ly sinh ra và lớn lên ở Bắc Kạn, người Tày, học ngành viết văn, sau ra trường làm báo, hiện sống và viết tại quê hương. Một phác thảo lai lịch như thế cho thấy hai điểm quan trọng: người thơ ấy có một vốn liếng hết sức tự nhiên, sống động về nơi chốn mình, dân tộc mình và được đào tạo bài bản trong môi trường viết.
Ký họa chân dung nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

NỒNG NÃ HƯƠNG VỊ MIỀN CHÂU THỔ CHÍN RỒNG

Nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều sinh ra và lớn lên ở chính giữa lòng châu thổ Cửu Long. Hiện chị cũng sống và viết tại đây. Như thế, tức là cả đời “ăn chịu” quê hương, xứ sở. Như nắng như gió, như đất như cây, như điệu ca vọng cổ, thơ Huỳnh Thúy Kiều cứ thế cất lên tự nhiên, đậm hương, nồng vị và lan tỏa.
Ký họa chân dung nhà thơ Đào Quốc Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh

Những năm gần đây, cái tên Đào Quốc Minh trở nên khá quen thuộc trong văn giới và bạn đọc. Anh viết và xuất bản đã có đến năm sáu tập thơ; tập gần đây nhất là “Phục sinh” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024) với dung lượng khá lớn, 180 bài.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Quả thơm thì ở lại”

Người ta vẫn thường hay nói nhà thơ không có tuổi. Đó là một cách nói vui, lãng mạn, nghiêng về phía an ủi nhau. Thật ra, ai cũng vậy thôi, nhà thơ cũng như tất thảy chúng sinh, không tránh khỏi quy luật của tự nhiên. Tất thảy chúng ta già dần dần, đi theo quy luật của muôn đời: sinh, lão, bệnh, tử… không thể khác.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Kim Hoa của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những ký ức cất lời

Trần Kim Hoa làm thơ dễ đã 30 năm có lẻ. Và đã ra được 3 tập thơ riêng đầy đặn, trong đó tập Bên trời gần đây nhất đã được trao Giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt nam (2020). Trong vòng ngần ấy thời gian, với 3 tập thơ, cho thấy tác giả không phải là người ham chạy theo số lượng.
Ký họa chân dung nhà thơ Đoàn Văn Mật của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Sáng lên từ những nhỏ nhoi”

Cho đến nay, Đoàn Văn Mật đã trình làng ba tập thơ, tập gần đây nhất là “ Ngoài mây trời đầy trống vắng ” (NXB Hội Nhà văn, 2023).
Ký họa chân dung nhà thơ Kiều Maily của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ, hoa của người

Trong bài thơ mang tên “Nàng, hoa của cát” (đồng thời cũng được lấy làm tên cho tập thơ, NXB Hội nhà văn, 2019), nhà thơ Kiều Maily đã có những câu thơ như thể tự họa về mình: Nàng, hoa của cát/ yếu đuối giữa men tình/ kiêu hãnh với cô đơn/ nỗi mơ cuốn nàng về miền hạnh phúc/ Nàng, hương của đất/ chắt chiu giọt phù sa nuôi nấng đời cây/ hẹn mùa gieo hạt. Bài thơ có ba chủ thể: nàng, hoa và cát trong mối quan hệ gắn bó, ràng rịt với nhau.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Ngọc Mỹ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhủ lòng vượt lên những phôi pha

Một người làm thơ trẻ thông thường hay lựa chọn một cách thế sống cùng, sống giữa, đồng hành với thế hệ mình và với đời sống hôm nay trong tất cả sự bề bộn, phức tạp và sống động của nó.
Ký họa chân dung nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Phạm Thị Ngọc Liên: Người đi tìm chân dung tình yêu

Tròn 20 năm, nữ thi sĩ Phạm Thị Ngọc Liên mới trở lại thi đàn bằng tập thơ dày dặn mang tên “Trong tôi có nhiều tôi” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn). 99 bài thơ kết thành một “con đường thơ” với biển chỉ đường là “Tình yêu”. Phải, tất cả đều là thơ Tình, của một người đàn bà hồn nhiên, đa đoan, sẵn sàng “nhắm mắt đi trên cầu thăng bằng/ nồng nàn/ liều lĩnh” để tìm cho được chân dung của Tình yêu, hay là chân dung thân phận con người.
Ký họa chân dung nhà thơ Thy Nguyên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thy Nguyên - Người đàn bà làm thơ buồn

Thơ gắn với buồn từ khi nào, có lẽ từ lúc thơ bắt đầu. Buồn là một phẩm chất của thơ, là một phẩm chất của đời sống con người vốn mong manh hữu hạn, nhiều bất toại hơn như ý. Người cầm bút tìm đến thơ như một cách để cất giấu, lại như một cách để phơi bày nỗi buồn trên mặt giấy. Ðể tìm kiếm một sự đồng cảm, tìm kiếm tri âm. Thy Nguyên là kiểu người làm thơ như vậy, “chơi” với buồn, và “phơi” nỗi buồn, không đắn đo giấu giếm.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hồng của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những xuân thì

Nguyễn Hồng là một cái tên dường như đã quen trong đời sống văn học hiện thời. Chị khá chắc tay trong nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, thơ. Riêng với thơ, chị đã cho in tập “Ví dụ anh” (2016), và đã đăng rải rác khá nhiều bài thơ lẻ trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Một dáng vóc thơ dần được định hình...
Minh họa trang thơ: ĐẶNG TIẾN

Trang thơ

Nhân Dân hằng tháng xin giới thiệu cùng độc giả trang thơ Tết.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Khắc Bắc của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường

Phùng Khắc Bắc, "Một chấm xanh"

Vào quãng năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, khi đang làm nghiên cứu sinh ở Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi thấy trong văn giới xôn xao bàn tán về một tài thơ rất lạ mới có 47 tuổi vừa mới khuất. Đó là nhà thơ Phùng Khắc Bắc, tác giả tập thơ duy nhất mang tên “Một chấm xanh” do NXB Quân đội nhân dân phát hành cuối năm 1991.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nguyễn Hoàng Sơn, thơ viết cho thiếu nhi và...

Bạn đọc yêu thơ ngay từ thập niên 80 của thế kỷ XX đã biết đến một cây bút viết thơ cho thiếu nhi mang tên Nguyễn Hoàng Sơn. Lúc ấy, thơ viết cho thiếu nhi nổi bật nhất vẫn là một số cây bút quen thuộc, thế hệ đàn anh như Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải... Cái tên Nguyễn Hoàng Sơn cùng vài cây bút thế hệ anh như Phạm Đình Ân, Trương Hữu Lợi, Mai Văn Hai... mới bắt đầu thấp thoáng.
Ký họa chân dung thi sĩ Văn Cao của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Văn Cao: "Ngày đêm làm ngọc"

Trong các ấn phẩm về thơ Văn Cao đã xuất bản, chỉ thấy chừng chưa đến mươi bài thơ được viết từ năm 1939 đến năm 1942.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Thúy Hạnh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nguyễn Thị Thúy Hạnh: Làm thơ, làm chữ

Trong số những nhà thơ trẻ (xuất hiện ở độ tuổi dưới 35) hiện nay, có một số cây bút rất quan tâm đến việc đổi mới thơ theo cách bắt đầu bằng việc dụng chữ, làm chữ, biến/đổi chữ. Nguyễn Thị Thúy Hạnh là một cây bút như vậy, ngay từ đầu, nhất quán và công khai tư duy về chữ, “di chữ”, “sống lời”, đã xác lập một quan niệm về thơ lấy chữ/ngôn ngữ làm trung tâm.
Ký họa chân dung nhà thơ Phạm Công Trứ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhà thơ Phạm Công Trứ: Tựa vào những câu thơ hay

Trong truyền thống, nhất là với thơ trung đại, người đọc thơ thường hay chú ý đến những câu chữ được coi là tuyệt bút trong bài: những “nhãn tự”, “thần cú”... Cách nhìn này, khi bước sang văn học hiện đại vẫn được chú ý, nhưng không còn là duy nhất, cuối cùng.
Ký họa chân dung nhà thơ Bạch Diệp của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường

Nỗi đồng vọng xôn xao

Quan sát những người “dính” vào chốn thơ, thấy họ làm thơ với rất nhiều động cơ khác nhau. Những động cơ ấy có khi rõ rệt, có khi mơ hồ; có khi thiết thực, có khi lại vu vơ; có thể người thơ ý thức rõ công việc mình làm, có khi cứ viết như một thôi thúc bên trong không cưỡng được...