Trần Nhật Minh - Thơ và những cuộc du chơi

Đã từng làm việc ở Ban Văn học - Nghệ thuật - Âm nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trần Nhật Minh quen biết, giao du với nhiều văn nghệ sĩ. Minh không chơi thì thôi, đã chơi thì luôn hết lòng với bạn.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Nhật Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Nhật Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhật Minh biết nhiều, liên tưởng rộng, đúng vai một “tổng kho văn nghệ”. Anh là người đa năng, viết báo, tản văn, bút ký, vẽ, làm thơ nhưng không viết, vẽ để thành “nhà”, mà chỉ như một cách chơi.

Trần Nhật Minh ít làm thơ nhưng anh chưa bao giờ bỏ thơ. Với anh, thơ là thể cách riêng để nói lên những ẩn mật tâm hồn, nhưng cũng là một cuộc tình tay ngang. Nhật Minh viết không nhiều, nhưng với thơ, anh đã kiến tạo nên một hệ sinh thái tâm hồn của một người xưa bóng cũ, phảng phất lãng mạn cổ điển. Thơ anh không kỹ thuật, mà nảy ra bởi dòng suy cảm tự nhiên. Và bởi tự nhiên, cho nên, trước hết, nó đậm về xúc cảm. Dễ nhận ra, chủ thể trữ tình xuyên suốt trong thơ anh là chàng trai lãng mạn, đa cảm, đa mang: “Tôi như lạc mùa/ xa xăm trở lại/những tháng thật xưa/ những ngày thật cũ/ tìm xác cơn mưa/ khô theo lá rũ/ bức tường còn nguyên/ bóng người tan tác/môi hồng còn duyên/ nụ cười đã nhạt” (Lạc mùa); “Những đồ đạc ngẩn ngơ ký ức/ Xếp lại làm sao phút ban đầu/ Trang giấy thở bài thơ còn thắm mực/ Hành lý gió sương vệt bụi ga tàu/ Khi trở lại vẫn còn nguyên mùi cũ/ Ta chả có gì chỉ ký ức mang theo” (Ký ức).

Thơ Nhật Minh là sự hiện hữu những khoảnh khắc thầm kín của tâm trạng. Chủ thể trữ tình trong thơ anh, do thế, luôn mang mang vơi đầy nỗi nhớ niềm thương: “Tôi lớn lên hàng cây đã xanh rồi/ Lá vẫy gọi ngàn trùng trong tiếng gió/ Khẽ thì thầm giọng người yêu bé nhỏ/ Kể tôi nghe bí mật những con đường/... Giờ những hàng cây đổ gục chỗ tôi ngồi/ Bao xác lá dội về như ký ức/ Lại như thuở bên cỏ chiều thổn thức/ Phố ngẩn ngơ hoang vắng gọi xanh về...” (Gọi xanh về). Ở đó, sự giày vò của thời gian không làm nhạt phai cái nhìn lãng mạn của chàng trai văn khoa tuổi đôi mươi năm nào: “Qua ô cửa/Tôi chạm vào mùa đông rét mướt/ Những giọt mưa run rẩy/ Đậu lên phím tay em/Từng thanh âm trầm/ Qua từng ngón nhỏ/Từng lá rơi thầm/ Nghiêng qua chiều gió/Qua ô cửa lạnh/ Bóng em soi/ Gương mặt tôi năm tháng...” (Ô cửa mùa đông).

Thơ Trần Nhật Minh là thơ của kỷ niệm và hoài niệm. Đằng sau con chữ, dường như luôn có một chủ thể trữ tình - kẻ mắc nợ ân tình với ngày xưa tháng cũ: “Hơi người/ Náu góc bếp xưa/ Ấm một vùng lửa đỏ/ Ngọn khói đói lưa thưa/ Níu bờ tường sạm gió” (Bếp xưa).

Nhật Minh ưa quan sát, suy tư. Một cách tự nhiên, thơ anh bật ra từ những suy tư thế sự: “Kìa những con mắt cá/ Mở trừng hướng biển khơi/ Cá khóc nước mắt đắng/ Trên bờ đau nghẹn lời/ Kìa những linh hồn cá/ Oán hờn giữa biển sâu/ Cá khóc đại dương đói/ Giữa chớp giông nguyện cầu/ Kìa bạc đời như cá/ Xác vùi trong cát nghèo/ Kiếp này rồi kiếp khác/ Hồn nhằm cột buồm treo...” (Nước mắt cá); hay những cảm niệm đậm chất triết lý nhân sinh: “Mấy thước vuông/ Bạc phơ vùng mây rối/ Những góc nghĩ không thành/ Đời người luẩn quẩn/ Cuối đất cùng trời/Lại mấy thước vuông/ Cỏ xanh bạn hữu/ Khóc khóc cười cười...” (Mấy thước vuông); Những pho tượng im lời/ Còn sen thì câm lặng/ Bao sướng khổ trong đời/ Đổi một mùa thanh vắng (Sen).

nha-tho-tran-nhat-minh-giao-luu.jpg
Nhà thơ Trần Nhật Minh (ngoài cùng bên trái) là khách mời chương trình ca nhạc của Phát thanh Quân đội.

Sinh ra và lớn lên ở phố, nhưng Nhật Minh không mang trong mình những hào nhoáng hư ảo về phố, mà luôn trĩu nặng u hoài căn cước phố. Không khó nhận ra, phố đẹp trong anh là phố của ngày xưa. Xà cừ. Long não. Hàng me. Dải sương mờ đục như bụi trắng. Trong gió tiếng chuông ngân. Những cuộc trà trên căn gác cũ... Để rồi, mãi sau này, trong những giấc mơ, gã trai già phố cổ còn thảng thốt bất chợt về vị phố: “Chốn cũ quay về/ chén rượu ấm nồng hăng hăng vị phố/ cây bàng cây me tuổi già khắc khổ/ dõi trời ký ức/ những ô cửa/ chớp mắt lô xô/ Tôi ngồi đầu ô/ vợi đêm mờ sáng/ sương khuya làn khói mơ hồ/ chợt thoáng bay qua mắt ướt/ ngỡ ai vừa nhận ra mình” (Phố đợi).

Nhật Minh đi trong phố mà nhớ phố, bởi phố của anh phần nhiều là buồn phố, cô đơn phố. Người tha thiết thường day dứt, xót đau: “Thị thành tự kỷ/ Mang nhau đi/ Xa những an lành/ Hơi người ươn tanh mùi cá/ Chợ chiều bán những mong manh/ Hắc ám bóng đêm/ Dòng mê ngụp lặn/ Cuồng tín bơ phờ/ Khói nhang viển vông/ Bay vô đạo mái chùa cổ kính” (Thị thành).

Nhật Minh là người yêu kỷ niệm, yêu những gì thuộc về “bóng cũ người xưa”. Thế nên, trong thơ anh, mẹ cha là một chủ đề, đúng hơn, một biểu trưng. Nhưng khi viết về mẹ, cha, Minh không chỉ nói cho riêng mình. Tình yêu với mẹ của anh, theo đây, cũng là những suy tư về mẹ, tình cảm với cha, cũng là sự nghĩ về cha: “Mẹ không thuộc về tiếng vỗ tay/ Đám đông ồn ào huyên náo/ Mẹ yêu đóa hoa sen thơm thảo/ Khép sau lưng những trận gió gầm gào” (Thơ gửi mẹ); “Khi tóc Cha tung lên cùng mái sóng/ Con hiểu sự già nua chưa đến nơi này/ Biển xanh biếc/ Cuộc đời rộng lớn/ Từng đợt sóng vui - buồn/ Chớp mắt bể dâu” (Biển của con).

Không ai đồng nhất giản đơn con người thực tại với hình tượng tác giả trong thơ. Tuy nhiên, có một điểm dễ thống nhất trong thơ Trần Nhật Minh là, cũng như tác giả thực tại, thơ anh luôn có hình bóng một nam nhân ưa hồ hải, phiêu bạt kiểu giang hồ nghệ sĩ: “Đôi khi thèm lên núi/ Hát vài bài ca chơi/ Như mây bay gió thổi/ Như sông ngàn năm trôi” (Thèm lên núi). Không khó để nhận ra bóng dáng của dòng sông, khe núi, dấu chân kẻ lang thang bên chiều lửa đỏ. Đâu cũng lưu đầy xúc cảm, đâu cũng dằng dặc nhớ thương. Đó là Sài Gòn: “Con sông gày nhánh cỏ/ Trôi tận cùng nhớ mong” (Chiều bên sông Sài Gòn); “Sài Gòn buộc tôi vào ngọn gió/ Thổi tôi bay ngang dọc những con đường/Những con đường giấu kín vết thương” (Sài Gòn); là miền tây thương nhớ, là điệu lý phương nam xa xôi, vùng sông nước mà anh gắn bó một thời: “Khi tôi đến miền Tây thức dậy lâu rồi/ Từng giọt phù sa đồng bằng nhấp nháy/ Nắng mới nhìn tôi những thế kỷ xa xôi/ Chợt gần gũi thuở hồng hoang mở cõi/ Tôi thênh thang chạm tới chân trời (Miền Tây); là Tây Bắc hoang dại trong ký ức Minh: “Tây Bắc/ Núi sắc lưỡi dao/ Mắt quắc/ đàn ông/ chọn đỉnh trời để thở/ đàn bà/ chọn góc rừng để nhớ” (Tây Bắc).

nha-tho-tran-nhat-minh-tham-gia-dien-dan-van-hoa-nghe-thuat.jpg
Nhà thơ Trần Nhật Minh (ngoài cùng bên phải) tham gia tọa đàm trong chương trình “Góc nhìn văn hóa”.

Nói thơ Nhật Minh vừa ấm áp, vừa mỏng manh, là như thế. Nhật Minh trầm mặc mà phiêu lãng. Bên một Nhật Minh khê nồng còn có một Nhật Minh với những cơn mơ. Tôi rất thích những câu thơ phảng phất ảo ảnh hoang vắng của anh: “Đêm vẫn còn hiu hắt/ Nỗi đèn khuya mong chờ/ Mẹ ngồi hơ bóng lạnh/ Bên bếp mùa đông mưa/ Con cuộn tròn giấc ngủ/ Bụi đường xa gót giày/ Mơ được làm đứa trẻ/ Nói cười như thơ ngây” (Sông xa).

Thơ Trần Nhật Minh đây đó luôn ẩn khuất nỗi xót xa sau những ồn ào nộ khí: “Có những ngày tiếp nối những ngày/ bài thơ viết giữa muôn trùng trận bão/ nước mắt chưa ngừng rơi/ ta thương ta thương bạn/ từng chấm nhỏ nhoi trôi lặng dưới trời...” (Có những ngày). Bởi nặng tình đời nên thơ anh cũng là nỗi ngậm ngùi về sự nhạt phai tình đời ấy: “Mắt cá buồn/ Mắt em ướt lạnh/ Vạt tóc tanh tanh/ Chợ chiều tàn cá ươn khách vắng/ Biển vây quanh sạp cá tròng trành” (Ghi ở chợ cá biển). Trong cuộc nặng kiếp người, không ít lần Minh ngồi xuống thở than. Sự nhàm tẻ thường nhật, cái phi lý của cuộc đời, cảm giác vô vọng của kẻ “đợi đến lượt mình”: “Tôi xếp hàng/ Chờ đến lượt mình/ Để được hót những lời vay mượn/ Rồi chờ mãi/ gục xuống/ Những dấu chân chồng lên nhau/ Không khoan nhượng” (Hót). Không phải ngẫu nhiên, không ít lần, cơn gió hoang trong anh bật tung khao khát “buông” và “mở”, khao khát vượt thoát khỏi những uẩn ức, bay về chân trời tự do: “Bỏ lại những ngày vừa cũ/ Chạm vào ngày mới tinh khôi/ Trên chuyến xe cuối mùa vừa đủ/ Cho tôi và một khung trời” (Ngày mới); “Mở trong anh/ chân trời lạ/ nơi có đường bay/ của những cánh thật thà” (Mở).

Thơ Trần Nhật Minh ẩn chứa một mật mã riêng trong tâm hồn nghệ sĩ phong phú của anh. Ở đây, sự tinh tế, đa chiều và thành thực của cảm xúc, chất suy tư ở chiều sâu, sự khoáng đạt của ngôn từ làm thành một Nhật Minh - thơ hấp dẫn, lấp lánh nét tài hoa. Dẫu xem đây chỉ là một cuộc chơi, tôi vẫn mong anh đi tiếp trên con đường ấy...

Có thể bạn quan tâm

Ký họa chân dung nhà thơ Vi Thùy Linh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình

Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.

Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hùng Vĩ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Em đem mùa hạ rót vào mùa đông”

Những đêm mùa đông chờ Xuân, nơi căn phòng nhỏ ấm, lũ sinh viên nghèo lại quây quần quanh thầy Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ), một ông giáo hồn hậu, quê nghèo lam lũ xứ Nghệ, luôn trọng nghĩa trọng tình.

Nhà thơ Vân Anh.

Thơ Vân Anh “mặc định nhịp trẻ”

Dễ thấy lâu nay, người viết khi cho in tuyển tập đồng nghĩa với việc gom lại, khép lại quá trình sáng tác. Nhưng cũng có người sau đó vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm, không phải “út, ít” bòn mót, mà là những “đứa con” bụ bẫm, khỏe mạnh, ai cũng tấm tắc, trầm trồ.

Ký họa chân dung nhà thơ Trần Hoàng Thiên Kim của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Vì yêu mà thao thức

Trần Hoàng Thiên Kim là cái tên không xa lạ với công chúng ở các lĩnh vực báo chí, truyền hình, nghiên cứu văn học hay thơ ca.

Ký họa chân dung nhà thơ Ngô Thanh Vân của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Em và phố và thơ

Ai đó đã từng nói: thơ là bản tự thuật của tâm hồn. Thật thế. Ngoài đời, con người có thể phần nào che giấu được mình, nhưng trong thơ thì không.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Thị Hương Ly của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Cõng lời thương trên lưng

Nữ nhà thơ Phùng Thị Hương Ly sinh ra và lớn lên ở Bắc Kạn, người Tày, học ngành viết văn, sau ra trường làm báo, hiện sống và viết tại quê hương. Một phác thảo lai lịch như thế cho thấy hai điểm quan trọng: người thơ ấy có một vốn liếng hết sức tự nhiên, sống động về nơi chốn mình, dân tộc mình và được đào tạo bài bản trong môi trường viết.
Ký họa chân dung nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

NỒNG NÃ HƯƠNG VỊ MIỀN CHÂU THỔ CHÍN RỒNG

Nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều sinh ra và lớn lên ở chính giữa lòng châu thổ Cửu Long. Hiện chị cũng sống và viết tại đây. Như thế, tức là cả đời “ăn chịu” quê hương, xứ sở. Như nắng như gió, như đất như cây, như điệu ca vọng cổ, thơ Huỳnh Thúy Kiều cứ thế cất lên tự nhiên, đậm hương, nồng vị và lan tỏa.
Ký họa chân dung nhà thơ Đào Quốc Minh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh

Những năm gần đây, cái tên Đào Quốc Minh trở nên khá quen thuộc trong văn giới và bạn đọc. Anh viết và xuất bản đã có đến năm sáu tập thơ; tập gần đây nhất là “Phục sinh” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024) với dung lượng khá lớn, 180 bài.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Quả thơm thì ở lại”

Người ta vẫn thường hay nói nhà thơ không có tuổi. Đó là một cách nói vui, lãng mạn, nghiêng về phía an ủi nhau. Thật ra, ai cũng vậy thôi, nhà thơ cũng như tất thảy chúng sinh, không tránh khỏi quy luật của tự nhiên. Tất thảy chúng ta già dần dần, đi theo quy luật của muôn đời: sinh, lão, bệnh, tử… không thể khác.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Kim Hoa của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những ký ức cất lời

Trần Kim Hoa làm thơ dễ đã 30 năm có lẻ. Và đã ra được 3 tập thơ riêng đầy đặn, trong đó tập Bên trời gần đây nhất đã được trao Giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt nam (2020). Trong vòng ngần ấy thời gian, với 3 tập thơ, cho thấy tác giả không phải là người ham chạy theo số lượng.
Ký họa chân dung nhà thơ Đoàn Văn Mật của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

“Sáng lên từ những nhỏ nhoi”

Cho đến nay, Đoàn Văn Mật đã trình làng ba tập thơ, tập gần đây nhất là “ Ngoài mây trời đầy trống vắng ” (NXB Hội Nhà văn, 2023).
Ký họa chân dung nhà thơ Kiều Maily của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ, hoa của người

Trong bài thơ mang tên “Nàng, hoa của cát” (đồng thời cũng được lấy làm tên cho tập thơ, NXB Hội nhà văn, 2019), nhà thơ Kiều Maily đã có những câu thơ như thể tự họa về mình: Nàng, hoa của cát/ yếu đuối giữa men tình/ kiêu hãnh với cô đơn/ nỗi mơ cuốn nàng về miền hạnh phúc/ Nàng, hương của đất/ chắt chiu giọt phù sa nuôi nấng đời cây/ hẹn mùa gieo hạt. Bài thơ có ba chủ thể: nàng, hoa và cát trong mối quan hệ gắn bó, ràng rịt với nhau.
Ký họa chân dung nhà thơ Trần Ngọc Mỹ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhủ lòng vượt lên những phôi pha

Một người làm thơ trẻ thông thường hay lựa chọn một cách thế sống cùng, sống giữa, đồng hành với thế hệ mình và với đời sống hôm nay trong tất cả sự bề bộn, phức tạp và sống động của nó.
Ký họa chân dung nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Phạm Thị Ngọc Liên: Người đi tìm chân dung tình yêu

Tròn 20 năm, nữ thi sĩ Phạm Thị Ngọc Liên mới trở lại thi đàn bằng tập thơ dày dặn mang tên “Trong tôi có nhiều tôi” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn). 99 bài thơ kết thành một “con đường thơ” với biển chỉ đường là “Tình yêu”. Phải, tất cả đều là thơ Tình, của một người đàn bà hồn nhiên, đa đoan, sẵn sàng “nhắm mắt đi trên cầu thăng bằng/ nồng nàn/ liều lĩnh” để tìm cho được chân dung của Tình yêu, hay là chân dung thân phận con người.
Ký họa chân dung nhà thơ Thy Nguyên của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thy Nguyên - Người đàn bà làm thơ buồn

Thơ gắn với buồn từ khi nào, có lẽ từ lúc thơ bắt đầu. Buồn là một phẩm chất của thơ, là một phẩm chất của đời sống con người vốn mong manh hữu hạn, nhiều bất toại hơn như ý. Người cầm bút tìm đến thơ như một cách để cất giấu, lại như một cách để phơi bày nỗi buồn trên mặt giấy. Ðể tìm kiếm một sự đồng cảm, tìm kiếm tri âm. Thy Nguyên là kiểu người làm thơ như vậy, “chơi” với buồn, và “phơi” nỗi buồn, không đắn đo giấu giếm.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hồng của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Thơ của những xuân thì

Nguyễn Hồng là một cái tên dường như đã quen trong đời sống văn học hiện thời. Chị khá chắc tay trong nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, thơ. Riêng với thơ, chị đã cho in tập “Ví dụ anh” (2016), và đã đăng rải rác khá nhiều bài thơ lẻ trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Một dáng vóc thơ dần được định hình...
Minh họa trang thơ: ĐẶNG TIẾN

Trang thơ

Nhân Dân hằng tháng xin giới thiệu cùng độc giả trang thơ Tết.
Ký họa chân dung nhà thơ Phùng Khắc Bắc của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường

Phùng Khắc Bắc, "Một chấm xanh"

Vào quãng năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, khi đang làm nghiên cứu sinh ở Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi thấy trong văn giới xôn xao bàn tán về một tài thơ rất lạ mới có 47 tuổi vừa mới khuất. Đó là nhà thơ Phùng Khắc Bắc, tác giả tập thơ duy nhất mang tên “Một chấm xanh” do NXB Quân đội nhân dân phát hành cuối năm 1991.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nguyễn Hoàng Sơn, thơ viết cho thiếu nhi và...

Bạn đọc yêu thơ ngay từ thập niên 80 của thế kỷ XX đã biết đến một cây bút viết thơ cho thiếu nhi mang tên Nguyễn Hoàng Sơn. Lúc ấy, thơ viết cho thiếu nhi nổi bật nhất vẫn là một số cây bút quen thuộc, thế hệ đàn anh như Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải... Cái tên Nguyễn Hoàng Sơn cùng vài cây bút thế hệ anh như Phạm Đình Ân, Trương Hữu Lợi, Mai Văn Hai... mới bắt đầu thấp thoáng.
Ký họa chân dung thi sĩ Văn Cao của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Văn Cao: "Ngày đêm làm ngọc"

Trong các ấn phẩm về thơ Văn Cao đã xuất bản, chỉ thấy chừng chưa đến mươi bài thơ được viết từ năm 1939 đến năm 1942.
Ký họa chân dung nhà thơ Nguyễn Thị Thúy Hạnh của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nguyễn Thị Thúy Hạnh: Làm thơ, làm chữ

Trong số những nhà thơ trẻ (xuất hiện ở độ tuổi dưới 35) hiện nay, có một số cây bút rất quan tâm đến việc đổi mới thơ theo cách bắt đầu bằng việc dụng chữ, làm chữ, biến/đổi chữ. Nguyễn Thị Thúy Hạnh là một cây bút như vậy, ngay từ đầu, nhất quán và công khai tư duy về chữ, “di chữ”, “sống lời”, đã xác lập một quan niệm về thơ lấy chữ/ngôn ngữ làm trung tâm.
Ký họa chân dung nhà thơ Phạm Công Trứ của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Nhà thơ Phạm Công Trứ: Tựa vào những câu thơ hay

Trong truyền thống, nhất là với thơ trung đại, người đọc thơ thường hay chú ý đến những câu chữ được coi là tuyệt bút trong bài: những “nhãn tự”, “thần cú”... Cách nhìn này, khi bước sang văn học hiện đại vẫn được chú ý, nhưng không còn là duy nhất, cuối cùng.
Ký họa chân dung nhà thơ Bạch Diệp của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường

Nỗi đồng vọng xôn xao

Quan sát những người “dính” vào chốn thơ, thấy họ làm thơ với rất nhiều động cơ khác nhau. Những động cơ ấy có khi rõ rệt, có khi mơ hồ; có khi thiết thực, có khi lại vu vơ; có thể người thơ ý thức rõ công việc mình làm, có khi cứ viết như một thôi thúc bên trong không cưỡng được...