Người nặng lòng cùng cổ vật

Với nhà sưu tầm cổ vật (NST) Lâm Dũ Xênh (64 tuổi), cảm xúc thăng hoa cùng cổ vật sẽ xuất hiện khi mọi thứ chung quanh đều tĩnh lặng. Cái lặng đó không chỉ về bối cảnh mà còn ở bên trong lòng người. Hành trình tìm kiếm, bảo vệ từng món đồ hàng nghìn năm tuổi của ông Xênh tựa như dấu gạch nối từ quá khứ đến hiện tại và cho cả tương lai.
Nhà sưu tầm Lâm Dũ Xênh giới thiệu các sản phẩm sưu tập gốm Mỹ Thiện.
Nhà sưu tầm Lâm Dũ Xênh giới thiệu các sản phẩm sưu tập gốm Mỹ Thiện.
  • Lần giở từng mảnh ghép

Đón chúng tôi trong không gian nhà cổ của mình ở thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), ông Xênh biểu lộ rõ lòng hiếu khách. Dưới mái nhà chòi gỗ lục giác, ông Xênh đốt một muỗng bột trầm hương. Khói xám hòa lẫn vào những giọt mưa cuối năm. Mặc dù là lần đầu gặp gỡ nhưng nụ cười hiền của ông Xênh đã khẳng định, đây là một người chơi đồ xưa rất hào sảng ở đất này.

Trong ngôi nhà cổ vừa được phục dựng, ông Xênh đưa người xem đi vào một bảo tàng thật sự. Vài cặp câu đối viết bằng chữ Hán, chiếc mảnh sành 500 năm tuổi bị vỡ trở thành khay đựng ấm trà, mấy cặp ché được đặt trang trọng hai bên, chiếc tủ đựng hàng chục mảnh lọ gốm, chân đèn, chén bát… “Từ không gian này, ông mong muốn hướng đến điều gì?”. Ông Xênh đáp: “Đó là những mảnh ghép tạo nên bức tranh văn hóa của quê hương tôi”.

Hành trình phục dựng nhà cổ của NST Lâm Dũ Xênh hình thành từ những lần mua - bán cột, kèo làm nhà. Đầu những năm 2000, mong ước có một ngôi nhà cổ để thỏa đam mê thôi thúc ông Xênh tập trung nghiên cứu, tích góp kinh phí. Giai đoạn đó, quá trình tập hợp thông tin, đầu mối kết nối về nhà cổ và cổ vật rất khó khăn. Trong tay ông Xênh không có điện thoại, không sách vở, không mạng internet. Điều duy nhất mà người đàn ông này có là sự dấn thân không biết mệt mỏi.

Tự động viên rằng, bản thân sẽ làm được, ông Xênh trải qua chặng đường dài 15 năm để sưu tầm, phục dựng nên bốn ngôi nhà cổ. Ông Xênh vẫn nhớ vô số kỷ niệm ăn ngủ cùng đội thợ mộc. Có lần, cả đội ở lại phố cổ Hội An (Quảng Nam) gần một tuần chỉ để học cách dựng bộ cổng. “Nhìn qua thì ai cũng nghĩ cổng nhà rất đơn giản. Nhưng đi sâu vào phải có một tư duy nhìn nhận. Mục tiêu là làm sao để khi cánh cổng dựng lên có mối tương quan với văn hóa của vùng đất. Từng yếu tố nhỏ được làm cẩn thận mới chuẩn nét ngày xưa của cha ông ta”, NST Lâm Dũ Xênh bộc bạch.

Đam mê chuyển thành hành động, cơ duyên bất chợt gắn kết chuyến hành trình là điều xuyên suốt trong thâm tâm của ông Xênh. Nhấp một ngụm trà, ông Xênh cho rằng, yếu tố may mắn đã và đang đến với ông. Từ những con người xa lạ, họ chỉ nghe loáng thoáng về thú chơi đồ cổ của ông. Và rồi, họ kết nối, đồng hành cùng ông trên mọi nẻo đường theo dấu cổ vật.

Giai đoạn 2017 - 2018, ông Xênh cùng PGS, TS Bùi Minh Trí - Viện trưởng Nghiên cứu kinh thành và TS Nguyễn Văn Việt - Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á thực hiện 5 chuyến điền dã về vùng đèo Le (xã Quế Long, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) để tìm dấu vết lò gốm của Khách trú (tức người Hoa di cư sang). Ông Xênh thu thập được một số mảnh vỡ còn sót lại ở khu vực này cũng như hình dung ra không gian làm gốm ngày xưa.

“Từ hình ảnh chi tiết trên bề mặt gốm ở đèo Le, tôi phát hiện ra một điều rất hay. Hơn trăm năm trước, nhiều người cứ tưởng gốm gia dụng có hoa văn mầu xanh dương là nhập từ Trung Quốc. Điều đó đúng nhưng không đủ. Vài chục năm gần đây, gốm men xanh dương đều được sản xuất ở chân đèo Le. Những người Khách trú đến Quảng Nam và lan truyền nghề làm gốm. Qua thời gian, sản phẩm dần trở nên đại trà trong các gia đình miền trung”, ông Xênh cho biết.

Từng mảnh ghép đồ xưa ít nhiều mang theo một cảm xúc nhất định. Đã có một vài lần, sự nuối tiếc như bao vây lấy ông Xênh bởi vì không kịp sưu tầm món đồ quý giá. NST Lâm Dũ Xênh quan niệm, cái tĩnh trong suy nghĩ của bản thân giúp hóa giải mọi nuối tiếc. Mọi thứ chung quanh ta đều có linh hồn. Với đồ cổ, có duyên thì nó ở với mình, nếu hết duyên thì để nó đi.

Một ngôi nhà cổ do ông Xênh phục dựng.

Một ngôi nhà cổ do ông Xênh phục dựng.

Đời gốm như thể đời ta

Quay lại ngày thơ bé, cậu trai trẻ Lâm Dũ Xênh thường theo đám bạn dạo xóm, đi bắn bi ở làng Mỹ Thiện (thị trấn Châu Ổ). Với nét ngây thơ của đám trẻ, lò gốm chỉ là một hình ảnh bình thường, toàn đất và khói. Dẫu vậy, khi lớn lên, ông Xênh suy nghĩ cần làm một điều gì đó với quê hương.

Trải qua những năm tháng tìm hiểu về gốm Mỹ Thiện, NST Lâm Dũ Xênh nhận thấy đây là một loại gốm rất riêng biệt ở miền trung. Ông Xênh đã có cơ hội tiếp cận các tư liệu và nhân chứng sống của làng gốm Mỹ Thiện. Tất cả các yếu tố cùng đi đến kết luận, có khoảng 40 hộ dân từng làm nghề gốm này và họ sinh sống tập trung ở một khu vực nhất định. “Trên cả dải đất miền trung, gốm Mỹ Thiện có một chất men đặc biệt hơn. Từ 200 năm về trước, các người thợ tập trung làm hai dòng là gốm sản xuất hàng loạt và gốm độc bản. Tuy nhiên, mọi sản phẩm gốm từ làng Mỹ Thiện phải nổi lên chất men vàng”, NST Lâm Dũ Xênh nhấn mạnh.

Ông Xênh chẳng thể nhớ được đã bao nhiêu lần rảo bước ở làng Mỹ Thiện. Ông cứ lầm lũi đi đi, về về. Ông kết nối với các cụ, các bác trong làng để nghe những câu chuyện xưa cũ của họ. Kể cả việc ông phải khom lưng bước vào lò nung gốm như thể, những lò nung đầy khói lại có một sức hút kỳ diệu nào đó. Điều kỳ diệu đó được hiểu là men vàng chỉ hiện ra khi được nung bằng than củi và trấu.

Hiện nay, chỉ còn vợ chồng nghệ nhân Ðặng Văn Trịnh (61 tuổi) và Phạm Thị Thu Cúc (55 tuổi) vẫn tiếp tục sản xuất gốm Mỹ Thiện. Ông Xênh luôn dành một tình cảm trân trọng cho hai vợ chồng này. Trước khi làm một sản phẩm, ba người cùng thảo luận sẽ tái hiện từng hình ảnh đơn sơ, mộc mạc như cành trúc lá tre, con rồng lên bề mặt gốm.

“Chúng ta cần hiểu con rồng của gốm Mỹ Thiện có đôi mắt lồi. Trên cặp ché, không bao giờ có sự đối xứng ở con rồng. Người thợ đắp nổi con rồng và chỉ cho nó nhìn về một hướng. Do đó, gốm Mỹ Thiện không có tư thế “lưỡng long” như các nơi khác”, ông Xênh phân tích.

Đồng hành cùng làng nghề từ khi nhà nhà đều làm gốm và hiện tại chỉ còn một hộ gia đình giữ nghề, NST Lâm Dũ Xênh hiểu đó không phải là sự lụi tàn. Tất cả mọi thứ diễn ra sẽ thể hiện xu hướng của thời đại. Đơn cử, đã có giai đoạn, các già làng ở tận vùng Tây Nguyên tìm đến làng Mỹ Thiện đặt gốm. Các già làng cùng tham gia nung gốm đến khi đạt chuẩn sẽ gùi về làng trên Tây Nguyên. Sự kết hợp nét đẹp giữa hai vùng miền vẫn tồn tại đến ngày nay. Khi ông Xênh quan sát phần đáy ché Mỹ Thiện, chi tiết tựa hình ảnh dấu chân voi đều có ở mọi chiếc ché.

Thêm một năm trôi qua, bộ sưu tập gốm Mỹ Thiện của ông Xênh lại tăng dần về số lượng. Hơn 200 hiện vật gốm đủ tình trạng như nguyên vẹn, một số đã bị mài mòn, thậm chí vỡ một phần… được ông Xênh cẩn thận chia ra thành từng gian trưng bày. Cầm trên tay chiếc lọ mầu vàng ươm, NST Lâm Dũ Xênh bày tỏ, câu chuyện bảo tồn văn hóa quê hương rất cần sự chung tay của mỗi người. Dù thời gian luôn chảy trôi thì cái gốc gác, nguồn cội của gốm Mỹ Thiện vẫn được lưu truyền.

Như một lời thổ lộ lòng mình, ông Xênh sáng tác nên bốn câu thơ bằng chữ Nôm và dịch nghĩa ra tiếng Việt: “Cuối cùng cũng chỉ là một giấc mộng. Tấc lòng với mùa thu và tình yêu thương trên đời. Đời người khó có được một lần say. Thế gian khó có được Ta qua một lần”. Đọc bài thơ trong làn khói trầm hương, cái say mê với miền xưa cũ càng thêm vẹn đầy.

Trong 30 năm sưu tầm và tìm kiếm cổ vật, ông Lâm Dũ Xênh còn kết nối, hiến tặng đồ cổ cho các bảo tàng, nhà lưu niệm. Năm 2012, ông nhượng lại cho Bảo tàng Tổng hợp Bình Định bộ sưu tập gốm cổ gồm 17 hiện vật. Trước đó, ông đã hiến tặng 21 thanh kiếm sắt thời Tây Sơn tìm thấy ở Gò Kho (vùng căn cứ Tây Sơn Thượng đạo thuộc thị xã An Khê, Gia Lai) để đưa vào trưng bày tại Bảo tàng Quang Trung (Bình Định). Ngoài ra, ông Xênh hiến tặng cho Nhà lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi) bộ 38 tờ tiền giấy xưa có chữ ký của cố Thủ tướng khi còn làm Bộ trưởng Tài chính.

Có thể bạn quan tâm

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.