Mùa xuân của những giáo viên cắm bản

Năm nào cũng thế, cứ 20 tháng Chạp, thầy giáo Phạm Xuân Thúy, giáo viên Trường tiểu học xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ (Lai Châu) lại đưa các em từ bản Sin Suối Hồ về nhà mình gói bánh chưng, làm mứt, cũng là buổi tổng kết chia tay để các em về bản nghỉ Tết cổ truyền. Không rõ, đây là xuân thứ bao nhiêu gia đình thầy Thúy đón Tết tại bản cùng bà con người H’Mông, người Dao xã biên giới Sin Suối Hồ.

Đến nhà học sinh vui Tết, động viên các em gắng học tập là niềm hạnh phúc của các thầy, cô giáo cắm bản xã Nùng Nàng.
Đến nhà học sinh vui Tết, động viên các em gắng học tập là niềm hạnh phúc của các thầy, cô giáo cắm bản xã Nùng Nàng.

Thầy, cô giờ cũng là dân của bản

Mùa xuân như đến sớm hơn với bản vùng cao Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ (Lai Châu). Sáng dậy mở cửa, gió mang hương xuân ngào ngạt. Và kia, trên mỗi mái nhà, tường đá, chạy dài khắp đầu bản cuối mường, những chậu địa lan rừng, hoa đào, hoa mận thi khoe sắc.

Bên phích nước hãm thảo quả, thứ quả rừng hễ gặp ở đâu là dậy mùi hương núi, thầy Thúy hồi ức lại những ngày đầu tiên đặt chân lên Sin Suối Hồ dạy chữ. Tốt nghiệp sư phạm Bạc Liêu ngành tiểu học, theo lời mời của người bạn lên Tây Bắc chơi. Cảnh sắc và con người nơi đây đã hớp hồn thầy giáo trẻ. Và điều làm anh khó phai nhất là những đứa trẻ bản, có đôi mắt to, đen láy, khi gặp người lạ thì trốn biệt, cùng tiếng cười giòn tan nhòa vào sương ẩn vào núi.

Từ chuyến đi ấy, anh quyết định ngược núi Lai Châu bắt đầu sự nghiệp trồng người. Anh đảm nhiệm lớp 1, tại bản Can Hồ, bản người H’Mông, một trong bảy bản khó khăn nhất của xã Sin Suối Hồ. Thời đó, Can Hồ với “4 không”, (không điện, đường, trường, trạm), lớp học chỉ là những lớp tạm của bà con dựng lên, có thầy, cô ở tại nhà bà con. Nơi biên viễn xa xôi, chỉ núi với rừng, mỗi chuyến về quê là cả một hành trình gian truân, vì quãng đường Lai Châu - Ninh Bình ngày ấy chưa thuận như giờ; nhiều chuyến về đến quê, Thúy thấy sợ chẳng muốn lên, nhưng rồi lời hứa với già bản, với các trò lại thôi thúc anh. 

Sau đợt Tết thường các em nghỉ học dài, vì mải chơi và đồng bào vùng cao nhiều lý lối phải theo, như tháng Giêng đầu năm phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng gọi tên các con vật trùng ngày hôm đó…, họ thường đóng cửa không cho con trẻ ra ngoài. Chính trong những ngày về bản đến nhà vận động học sinh ra lớp, anh đã bén duyên với cô giáo Thanh Thanh dạy cùng bản, quê Phú Thọ. Sau đám cưới, ngôi nhà hạnh phúc của thầy Thúy, cô Thanh được đồng nghiệp dựng bằng nếp nhà gỗ cũ của bà con nhượng lại.

Trưởng bản H’Mông Sin Suối Hồ Vàng A Chỉnh (xã Sin Suối Hồ) phấn khởi: “Bà con Sin Suối Hồ ai cũng quý, kính trọng các thầy, cô dưới xuôi lên dạy chữ cho con em mình. Nay bản mình ai cũng biết chữ cả, công các thầy, cô lớn lắm. Không chỉ có gia đình thầy Thúy cô Thanh mà nhiều gia đình giáo viên từ lâu đã thành công dân của bản Sin Suối Hồ rồi”.

Mùa xuân của những giáo viên cắm bản -0
Món quà xuân của bà con và học sinh xã Nùng Nàng dành tặng các thầy, cô mỗi độ Tết đến xuân về. 

Đón xuân trên đỉnh Nùng Nàng

Cô giáo Đỗ Thị Hải, quê ở Phủ Lý (Hà Nam), giáo viên Trường tiểu học xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường đang tất bật công việc lên lớp dặn dò các trò về bản ăn Tết với gia đình và nhớ không quên ra Giêng đi học đúng ngày. 

Tết này là năm thứ 20, cô Hải gắn bó với giáo dục vùng cao. Nhớ những ngày đầu bước chân lên Lai Châu công tác, chị được phân công về trường Tiểu học xã Mù Sang, là một trong những trường khó khăn bậc nhất khu vực phía bắc biên giới Phong Thổ (Lai Châu). Kỷ niệm đáng nhớ mãi đến giờ với cô Hải là ngày đầu dạy lớp 1, nhiều em cứ nhìn cô mắt tròn xoe, hỏi không nói một lời, thì ra nhiều em nhút nhát bởi tiếng phổ thông chưa sõi. Thế là cô vừa dạy chữ vừa dạy phát âm tiếng Việt. Thanh xuân của các thầy cô là những ngày họp trường, thời đó ba cấp học (mầm non, tiểu học và THCS) là một. Các giáo viên cắm bản cả tháng, khi trường báo họp, thì lại kéo nhau ra trung tâm xã, nhộn nhịp lắm, cũng phải  gần trăm con người, đa số là thanh niên trẻ, mỗi người một quê. Gặp nhau vui như hội, ăn chung, nghỉ chung tại nhà bà con. Có năm, nhiều giáo viên trẻ không về quê mà ở lại ăn Tết với bản. 

Nhiều năm ăn Tết, biết bà con người H’Mông, người Dao chỉ biết làm bánh dày, bánh nếp đen, trộn từ tro cây màng tang. Vì nhớ quê, các thầy, cô vào rừng lấy lá dong gói bánh chưng. Bà con các bản thấy lạ, kéo đến xem đông lắm, vừa gói bánh, thầy, cô giải thích cho bà con về “truyền thuyết Lang Liêu”, về “sự tích bánh chưng, bánh dày” và cũng từ xuân ấy, bà con ở bản xa biết gói bánh chưng vào các ngày lễ Tết.

Sát điểm trường cô Hải dạy học là ngôi trường khang trang hai tầng trên núi Nùng Nàng, có khuôn viên, sân chơi bãi tập. Đón chúng tôi với cái bắt tay phấn khởi, thầy giáo Nguyễn Thái Sơn - Hiệu trưởng Trường THCS xã Nùng Nàng cho biết, đây là năm học thứ ba các em học sinh người H’Mông Nùng Nàng không phải học ở những phòng học tạm nữa. Được biết, năm 2018, ngôi trường hai tầng kiên cố được bàn giao và đưa vào sử dụng, đây là công trình được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn chương trình nông thôn mới. 

Thầy Sơn quê ở Nam Định, trước khi về Nùng Nàng làm công tác quản lý, anh đã có hơn 20 năm gắn bó với giáo dục vùng cao. Nơi anh công tác là những bản làng heo hút của đồng bào người H’Mông các xã Tả Lèng, Nà Tăm, Khun Há của huyện Tam Đường. Cũng như thầy Sơn, thầy Bình, cô Hải cũng là những giáo viên cắm bản nay được điều chuyển về điểm trường trung tâm xã. Ngoài công tác giảng dạy, các thầy, cô còn một nhiệm vụ hết sức quan trọng là tổ chức nuôi ăn bán trú cho những học sinh ở bản xa về học. Vì các em đang trong tuổi trưởng thành, nên công tác bán trú với các thầy, cô khá vất vả. Không chỉ là người dạy kiến thức, các thầy, cô còn là anh chị, là bạn, cùng sẻ chia, trao đổi kỹ năng sống giúp các em ổn định phát triển tâm sinh lý. 

“Tết ở bản với thầy, cô giáo ở Nùng Nàng, đó là những ngày xuân bà con, học sinh về chúc Tết thầy, cô. Năm nào cũng thế, cứ sắp ngày nghỉ, bà con và học sinh lại về trường mang trên rừng những cành hoa đào, hoa mận đẹp nhất về tặng thầy, cô. Nhiều phụ huynh lặn lội từ bản xa về tay xách cặp bánh dày, xâu thịt lợn mới mổ, cùng với lời mời Tết nhất định các thầy, cô phải về nhà mình ăn bánh chưng, bát cơm nếp mới, uống chén rượu ngô mới cất... Tết xa quê tuy cũng có chút buồn, nhưng mãi thành quen, giờ với chúng tôi bản làng thành quê hương thứ hai rồi”, thầy Sơn chia sẻ.

Có thể bạn quan tâm

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.