Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.
Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Ngồi bên hiên nhà, hướng đôi mắt đã mờ đục nhưng lấp lánh niềm vui về phía những nương dong đang xanh ngút ngàn, cụ Chu Thị Niềm, năm nay hơn 80 tuổi kể lại: "Năm 1965 trở về trước, người dân Côn Minh khó khăn lắm, nhiều hộ đói giáp hạt kéo dài từ tháng Chạp đến giữa tháng 4 âm lịch. Cây dong riềng hồi đó vốn chỉ mọc hoang trên núi đá vôi, thấy củ ăn được người ta mới đem về trồng ở bờ rào, góc vườn nhà vài khóm để lấy củ luộc ăn, chẳng có giá trị kinh tế gì".

Ngừng một lúc, cụ Niềm nở nụ cười tự hào: "Ấy vậy mà cái Hoan giỏi quá, có tầm nhìn xa, dám đưa máy móc to đùng về bản để làm miến, lại còn xuất khẩu sang tận nước ngoài. Nhờ có Hợp tác xã (HTX) Tài Hoan bao tiêu, cả xã Côn Minh bây giờ nhà nhà trồng dong, làm miến, thỉnh thoảng cả làng lại được lên ti-vi, các bậc ông, bà như tôi hãnh diện lắm!".

Từ sợi miến bên bếp than hồng

Chị Hoan kể, hồi còn đi học thấy cha mẹ làm miến cực lắm, giã củ dong bằng tay, lọc bột bằng tấm vải thô rồi đổ bánh, thái sợi thủ công. Miến làm ra chủ yếu để ăn trong ngày Tết, dư chút ít thì mang ra chợ đổi mắm, muối. Không cam lòng nhìn sản vật quê hương bị bó hẹp nơi xóm bản dù cuộc sống đầy rẫy những khó khăn, hành trình khởi nghiệp chỉ có niềm tin và sự quyết tâm, chị mạnh dạn thực hiện một cuộc cách mạng từ gốc đến ngọn.

Đầu tiên là xây dựng vùng nguyên liệu sạch phục vụ sản xuất miến sạch, chị Hoan lặn lội đến từng hộ vận động bà con không dùng phân bón hóa học, chỉ trồng dong thuần hữu cơ. Vụ dong nào sau khi chế biến, chị đều tận dụng bã đem ủ thành phân hữu cơ rồi cho các hộ trồng dong bón miễn phí để có nguồn dong sạch, đạt hàm lượng tinh bột cao. Chị cũng không ngại khó đến các địa phương có nghề làm miến nổi tiếng học hỏi. Rồi chị gom hết vốn liếng trong nhà, vay ngân hàng để đầu tư vào hệ thống máy móc nghiền, tráng, đóng gói hiện đại.

“Thời gian đầu đưa hệ thống thiết bị máy vào hoạt động, mọi kỹ thuật đều mới, chưa thuần thục nên nhiều mẻ bột, mẻ miến không như mong muốn. Mọi áp lực bủa vây: Kỹ thuật, vốn, lương công nhân nhưng tôi quyết không bỏ cuộc. Lần mò từng công đoạn, hiện đại nhưng vẫn phải giữ trọn bí quyết truyền thống. Không sử dụng chất tẩy trắng hay chất bảo quản, sợi miến có màu xám trong tự nhiên, khi nấu chín có độ dai, giòn và hương thơm đặc trưng của nắng gió vùng cao. Sản phẩm miến ngày càng nâng cao chất lượng, được công nhận OCOP 3 sao, 4 sao, rồi 5 sao, đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, có mã vạch truy xuất nguồn gốc rõ ràng, bao bì đóng gói cẩn thận. Lần mò sử dụng máy vi tính, kiên trì kết nối, tham gia các hội chợ xúc tiến thương mại trong tỉnh, các tỉnh, thành phố trong cả nước để học hỏi, kết nối thị trường, từ đó, sản phẩm miến dong Tài Hoan có mặt trên kệ của các siêu thị lớn tại các tỉnh, thành”, chị Hoan chia sẻ.

Đến tấm vé vào thị trường EU

Gặp chị Hoan tại xưởng sản xuất vào một ngày nắng hè oi bức, ấn tượng đầu tiên về người phụ nữ Tày ấy là nụ cười và đôi bàn tay thoăn thoắt, hằn lên những vết chai sần của sương gió.

“Tôi tự hỏi, sản vật của quê hương vốn được trồng, chế biến từ nguồn nước sạch, mát lành sao lại không thể đi xa hơn. Trong khi các sản phẩm nông sản ở nơi khác lại có thể đi khắp thế giới?”. Thế là lại một cuộc lội ngược dòng đầy gian truân đối với người phụ nữ dân tộc vùng cao ấy. Chị Hoan tự mày mò tìm hiểu các tiêu chuẩn quốc tế - những khái niệm vốn quá đỗi xa lạ ở vùng cao; tìm cách khắc phục nhược điểm, khiếm khuyết từ chất lượng sợi miến cho đến các kỹ thuật đóng gói, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Đối mặt với các thủ tục hải quan và các tiêu chuẩn kiểm định nghiêm ngặt của EU gian truân như “ma trận”. Hàng xấp hồ sơ với những thuật ngữ chuẩn hóa quốc tế, chứng nhận vùng trồng, kiểm dịch thực vật, hồ sơ... khiến chị Hoan nhiều khi muốn bỏ cuộc. May mắn là chính quyền địa phương, bạn bè quan tâm đến sự phát triển việc xây dựng sản phẩm nông sản, giúp HTX những thủ tục liên quan và đặc biệt là được sự giúp đỡ của lãnh đạo một công ty ở Hà Nội đã cử nhân viên hỗ trợ làm thủ tục dịch tiếng và còn hỗ trợ kinh phí làm công tác truyền thông về sản phẩm miến dong Tài Hoan với nước bạn.

“Có công mài sắt, có ngày nên kim”, sản phẩm miến dong Tài Hoan đã vượt qua hàng trăm tiêu chuẩn kiểm định nghiêm ngặt, được thị trường châu Âu chấp nhận. Chiếc container đầu tiên chở miến dong Tài Hoan chính thức được thông quan tại cửa khẩu châu Âu, cả thung lũng Côn Minh như bừng sáng trong niềm vui hân hoan chưa từng có. Đó không chỉ là cái gật đầu của một thị trường tầm mức quốc tế, mà là khoảnh khắc vỡ òa của một giấc mơ tưởng hoang đường đã thành sự thật của một HTX nông nghiệp ở vùng cao xa xôi, khó khăn. “Khoảnh khắc nhận được tin nhắn từ email thông báo thông quan thành công từ phía châu Âu, tôi đã khóc, khóc vì vui mừng. Nửa cuộc đời làm nghề miến dong tôi chưa bao giờ dám nghĩ lại thành công như vậy", chị Hoan kể.

Và sợi dây liên kết của chính quyền

Nói về sự thành công, chị Hoan chia sẻ, không chỉ nỗ lực của cá nhân mà nó là quả ngọt được kết tinh từ sợi dây liên kết chặt chẽ giữa khát vọng của người dân và sự đồng hành của chính quyền địa phương.

Theo ông Phạm Ngọc Thịnh, nguyên Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Na Rì, trực tiếp được đồng hành hỗ trợ HTX Tài Hoan thời điểm xây dựng chất lượng, thương hiệu sản phẩm miến dong: “Rào cản lớn nhất ở họ lúc bấy giờ là vốn, kỹ thuật và các thủ tục. Lúc cần nhất, thì sự đồng hành của chính quyền địa phương các cấp không nằm trên giấy tờ, mà được cụ thể hóa bằng những cơ chế, chính sách sát sườn. Như tạo điều kiện cho họ tiếp cận ưu đãi, quy hoạch vùng nguyên liệu, khoa học kỹ thuật, xây dựng thương hiệu cho đến việc “dắt tay” doanh nghiệp đi xúc tiến thương mại. Khi khát vọng của người dân gặp được bệ đỡ đồng hành của chính quyền, đã tạo ra năng lượng cộng hưởng mạnh mẽ, biến những thách thức thành động lực để họ kiên trì bám trụ”.

Thị trường châu Âu (EU) nổi tiếng là một trong những bộ lọc khắt khe nhất thế giới với hàng loạt hàng rào kỹ thuật về an toàn vệ sinh thực phẩm và kiểm dịch động thực vật. Phải vượt qua rào cản ngôn ngữ giữa những cuộc đàm phán, những dòng email tiếng Anh, chị hoàn toàn như một người “mù chữ”. Nhiều doanh nghiệp lớn còn phải e dè, nhưng chị Hoan không lùi bước mà chọn đây làm cái đích để chứng minh giá trị cho sản phẩm miến dong quê hương.

Ông Nguyễn Ngọc Cương, Bí thư Đảng ủy xã Côn Minh chia sẻ, cái tên "Miến Côn Minh" đã trở thành hiện tượng của ngành nông nghiệp tỉnh, trở thành sản phẩm nông nghiệp mũi nhọn của địa phương. Hiện nay, toàn xã Côn Minh có hơn 60 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bột, miến dong và được công nhận làng nghề miến dong Côn Minh.

Cú huých từ EU đã tạo nên một làn sóng lan tỏa mạnh mẽ cho sản phẩm miến Tài Hoan, Côn Minh. Giờ đây, những container mang thương hiệu miến dong Tài Hoan, xã Côn Minh đều đặn vượt đại dương, mở rộng thêm các nước Mỹ, Australia, Hàn Quốc.

Vào xưởng sản xuất của HTX Tài Hoan, tiếng máy nghiền bột, máy tráng, máy cắt sợi, máy đóng gói rầm rầm từ sáng đến tối. Những giàn phơi miến san sát giữa nắng hè phủ trắng cả những khoảng sân. Trên gương mặt ai cũng rạng rỡ. HTX không chỉ bao tiêu củ dong cho người dân trong xã, các xã lân cận mà còn tạo việc làm thường xuyên có mức thu nhập ổn định cho 35 thành viên HTX và từ 55 - 60 lao động làm việc theo thời vụ. Các thành viên làm việc trong HTX chủ yếu là chị em phụ nữ dân tộc thiểu số. “Tôi thuộc diện khó khăn vì phải nuôi 3 người con và 1 chị gái chồng bị thiểu năng trí tuệ. Nhiều năm phải ở căn nhà cứ mưa là dột, thu nhập ổn định từ trồng dong riềng và làm việc cho HTX Tài Hoan, gia đình tôi đã làm được nhà mới, đời sống khá hơn nhiều", chị Lê Thị Lưu chia sẻ.

Sự kiên trì và tầm nhìn của chị Hoan không chỉ làm thay đổi số phận của một món ăn truyền thống, mà còn chứng minh một chân lý truyền cảm hứng mạnh mẽ. Đấy là khi khát vọng đủ lớn và được chắp cánh bằng tri thức, sản vật nơi núi rừng hoàn toàn có thể kiêu hãnh bước lên bàn ăn của thế giới.

Có thể bạn quan tâm

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.