“Ngáo ộp” hồ chứa thủy điện (kỳ 2)

Kỳ 2: Giải bài toán giảm thiểu thiệt hại khi thủy điện xả lũ

Thủy điện Ba Hạ, nơi nhiều người cho rằng có tác động không nhỏ tới lũ lụt vùng hạ du Đắk Lắk năm 2025. Ảnh: PHẠM PHƯỜNG
Thủy điện Ba Hạ, nơi nhiều người cho rằng có tác động không nhỏ tới lũ lụt vùng hạ du Đắk Lắk năm 2025. Ảnh: PHẠM PHƯỜNG

(Tiếp theo và hết)

Từ ngày 15 đến 20/11/2025, do mưa lớn cực đoan, Thủy điện Ba Hạ xả lũ khẩn cấp kéo dài. Nhiều vùng hạ du ngập sâu 3-4m, 113 người chết. Đây là thảm kịch lũ thủy điện nghiêm trọng nhất từ trước tới nay ở nước ta.

Thảm kịch lũ Thủy điện Ba Hạ

Ngày 14/11/2025, nhận định thời tiết sắp có mưa lớn, Cục Phòng chống thiên tai và Quản lý đê điều (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã có văn bản chỉ đạo, cảnh báo. Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk có văn bản chỉ đạo Thủy điện Ba Hạ đưa mực nước hồ về mức 104m. Giữa tháng 11, Thủy điện Ba Hạ đã tích nước đến cao trình 105m, là mức nước dâng cao nhất để phát điện. Khi nước dâng lên 105m, dung tích hữu ích tương ứng là 165 triệu m3. Mỗi mét nước chiều cao tương đương với từ hơn 30 - hơn 40 triệu m3 (vì hồ chứa nước theo hình phễu). Ngày 16/11, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk chỉ đạo đưa mực nước hồ về 102m lúc 11 giờ để chống lũ.

Trưa 19/11/2025, lũ về với cường độ lớn chưa từng thấy. Đỉnh lũ là 16.130 m3/s (lớn hơn cả đỉnh lũ Thủy điện Hòa Bình năm 2017). Với chiều cao cột nước hơn 100m, gần gấp đôi thủy điện Thác Bà, khoảng cách từ Thủy điện Ba Hạ về Tuy Hòa, thủ phủ tỉnh Phú Yên trước đây, chỉ có 40 km.

Trong 3 ngày, lượng lũ trên sông Ba lên tới 3 tỷ m3 nước. Đồng thời toàn bộ vùng hạ du cũng hứng chịu một đợt mưa kỷ lục. Tổng cộng lượng nước ở vùng này lên tới 4 tỷ m3 trong 3 ngày. Trong nhiều giờ, Thủy điện Ba Hạ xả lũ cả 12 cửa với cường độ 16.100 m3/s. Để giảm lũ cho hạ du, lãnh đạo tỉnh đã báo cáo, xin phép Chính phủ và được phép dâng nước lên cao trình 105,96m (mực nước gia cường, giới hạn cuối cùng cho phép).

Đến đây, sẽ có một băn khoăn rằng 40 triệu m3 lọt thỏm trong 3 tỷ m3 nước. Như vậy có nghĩa lý gì với đồng bào ở hạ du. Có thể tạm tính: Với đỉnh lũ là 16.000m3/s, mỗi phút tương đương với 1 triệu m3, Theo tính toán sơ bộ, phần dung tích bổ sung này có thể giúp kéo giãn thời gian xuất hiện đỉnh lũ ở hạ lưu, tạo thêm thời gian cho công tác ứng phó và sơ tán.

Trước đó, năm 2021, chỉ trong 7 giờ (từ 8 giờ đến 15 giờ ngày 30/11, Thủy điện Ba Hạ đã nâng lượng xả lũ từ 4.000 m3/s lên 9.400 m3/s. Nhiều làng mạc, công trình vùng hạ du thuộc 6 huyện, thành phố của tỉnh Phú Yên đã bị nhấn chìm. Hơn 10 người chết, thiệt hại hàng trăm tỷ đồng.

Khi đó, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia Phòng chống thiên tai Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, các chủ hồ chứa đã không thực hiện nghiêm quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Ba. Ngày 27/11/2021, Ban Chỉ đạo Quốc gia Phòng chống thiên tai có công điện chỉ đạo các địa phương phòng chống lũ lớn, một số hồ chứa trên lưu vực sông Ba không thực hiện nghiêm việc xả nước trước để đưa hồ về mực nước đón lũ, dành dung tích hồ phòng lũ.

Ngày 5/12/2021, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì cuộc họp về khắc phục hậu quả mưa lũ tại các tỉnh miền trung, Tây Nguyên. Kết luận của Thủ tướng nêu rõ: Phải rà soát quy trình chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai, phối hợp chặt chẽ trong vận hành liên hồ chứa bảo đảm khoa học, phù hợp thực tiễn, thông suốt. Việc xả lũ của các hồ chứa phải được phối hợp nhịp nhàng, thông tin kịp thời, có dự lệnh, động lệnh để các địa phương và người dân ở vùng hạ du các hồ chứa chủ động ứng phó... Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thanh tra, đánh giá việc vận hành xả lũ của các hồ chứa nước, kịp thời chấn chỉnh xử lý vi phạm (nếu có); tổ chức rà soát các quy trình vận hành liên hồ chứa để kịp thời điều chỉnh, bảo đảm vận hành khoa học, hợp lý, hiệu quả khắc phục những bất cập trong vận hành liên hồ!

Đây là một chỉ đạo quyết liệt, đúng và trúng của Thủ tướng Chính phủ! Tuy nhiên, cho đến những ngày cuối tháng 6/2026, sau hơn 4,5 năm, quy trình mới vận hành liên hồ chứa vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.

Cuối năm 2025, không ít người trong cuộc đã ngậm ngùi. Nếu có quy trình vận hành liên hồ chứa mới, có thể đã giảm thiểu được thiệt hại cho Đắk Lắk khi trận lũ thảm họa xảy ra.

Giảm thiểu thiệt hại lũ thủy điện

Đầu tiên và quan trọng nhất để giảm thiểu thiệt hại lũ thủy điện là chất lượng dự báo khí tượng, thủy văn. Theo Cục Khí tượng Thủy văn: Dự báo, cảnh báo lũ đủ độ tin cậy đối với hệ thống sông lớn ở Bắc Bộ trước 2-3 ngày, ở Trung Bộ trước 1-2 ngày, ở Nam Bộ trước 10 ngày, nâng chất lượng dự báo định lượng mưa lớn trước 2-3 ngày lên thêm 5-10% so với năm 2020, cảnh báo đủ độ tin cậy lũ quét, sạt lở đất trước 6 giờ.

Ngày 12/5/2026, gặp nhóm phóng viên, Phó Cục trưởng Khí tượng Thủy văn Hoàng Đức Cường cho biết: Dự báo không thể chính xác là đặc thù của công tác dự báo thời tiết. Phương châm của ngành là: Đo đạc chính xác, dự báo tin cậy, thông tin kịp thời. Ông Cường khuyến cáo: Không nên lập kế hoạch phòng chống thiên tai dựa theo dự báo mà phải căn cứ vào diễn biến thời gian thực(?!). Thiết nghĩ, kế hoạch nào cũng được xây dựng trên dự báo. Đó là đặc thù của việc lập kế hoạch.

Ngày 22/4/2026, Phó Chi cục trưởng Thủy lợi và Phòng chống thiên tai tỉnh Đắk Lắk Phạm Chí Toàn bày tỏ với chúng tôi: Trong đợt mưa lũ ngày 14 đến 19/11/2025, công tác dự báo khí tượng thủy văn không chính xác, dự báo chung chung giật cục. Từ ngày 14 đến ngày 19, thì đỉnh lũ vào ngày 18-19. Từ ngày 14 đến 18 thì dự báo mưa gió ở mức rủi ro cấp 2 thôi. Tới đêm 18 là lên mức rủi ro cực lớn. Mà khi đó đâu còn làm gì được nữa. Nước trong hồ đã tích lên 105m, cả vùng đồng bằng đã lai láng lên trên báo động 3 hết rồi. Nếu có dự báo sớm, hậu quả sẽ giảm thiểu hơn rất nhiều! Rồi cái phân vùng như dự báo thì cứ nói chung chung, không chỉ ra một địa điểm nào, xã nào. Toàn là có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to. Mà cái nơi mưa rất to không rõ ở chỗ nào(?!).

Theo Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia Mai Văn Khiêm: Thông tin dự báo là cơ sở để kích hoạt toàn bộ hệ thống ra quyết định. Việc điều chỉnh bản tin theo diễn biến mới là biểu hiện của tính khoa học và trách nhiệm.

Vậy nên có thể nói, nếu không thể dự báo chính xác với thời gian vài ngày, chỉ cần dự báo chính xác trước vài giờ, đặc biệt thậm chí tính bằng phút cũng quý.

Ngày 21/11/2025, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra kết luận về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, nêu rõ: Điều chỉnh các quy trình vận hành liên hồ, đơn hồ chứa thủy điện, thủy lợi, trong đó, phải ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ để cắt lũ cho hạ du. Kết luận do Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký.

Đổi mới quy trình cảnh báo lũ

Trước khi hồ thủy điện bắt đầu xả lũ, hệ thống cảnh báo lũ vùng hạ du được kích hoạt. Hầu hết các thiệt hại lớn về sinh mạng trong các đợt lũ thủy điện đều do những phương án chạy lũ không phù hợp với cường độ xả lũ.

Phó Tổng Giám đốc Thủy điện Ba Hạ Châu Đình Quốc kể lại: Khi thủy điện xả lũ cả 12 cửa với cường độ hơn 16.000 m3/s, tôi gọi điện về nhà ở Tuy Hòa cách 40 km dưới hạ du, giục chạy lũ. Vợ tôi bảo làm gì có lũ mà chạy? Chỉ vài giờ sau, lũ về ngập ngang ngực. Tôi cũng gọi điện cho một ông anh họ trong vùng nguy cơ lũ, ông ấy gạt đi, không tin. Hơn 2 giờ sau, sốt ruột quá tôi gọi điện giục ông ấy lần nữa. Ông anh miễn cưỡng mang gửi hai chiếc ô-tô, một chiếc máy xúc và một gói tiền mặt vừa rút ở ngân hàng về. Sáng ra, lũ ngập lụt nhà luôn.

Có nhiều, rất nhiều người dân vùng hạ du Thủy điện Ba Hạ không có người nhà gọi điện giục chạy lũ. Hậu quả là hơn 100 người chết, hàng nghìn gia đình mất trắng tài sản.

Một quy trình tốt phải bảo đảm người dân vùng hạ du nắm được đầy đủ thông tin về mức độ nghiêm trọng của lũ thủy điện. Thời gian chạy lũ tốt nhất là khi lũ thủy điện chưa gây ngập các đường giao thông hạ du. Cấp độ cảnh báo phải đủ quyết liệt và rõ ràng để người dân sẵn sàng bỏ hết tài sản mà chạy lũ.

Cần sớm hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa

Ngày 15/6/2026, sau hơn 2 tháng gửi công văn, gọi điện nhắc nhở, đốc thúc, nhóm phóng viên được làm việc với Phó Cục trưởng Quản lý tài nguyên nước Ngô Mạnh Hà và Trưởng phòng Nam Trung Bộ Nguyễn Thị Phương Hoa. Được biết, từ năm 2010 đến nay, quy trình vận hành liên hồ chứa đã qua bốn lần sửa đổi. Riêng đối với sông Hồng đã có từ năm 2007, do Bộ Công thương chủ trì. Từ năm 2010, xây dựng quy trình cho 11 lưu vực sông. Đến năm 2015, thì đủ quy trình vận hành cho cả mùa lũ, mùa cạn. Danh sách có khoảng 134 hồ chứa, đập dâng trên tổng số hơn 700 hồ. Có nghĩa là chỉ có 134 hồ nằm trong quy hoạch liên hồ. Trong 134 hồ ấy chỉ có khoảng 40 hồ chứa có dung tích cắt lũ cho hạ du. Bộ Tài nguyên và Môi trường phải đề xuất với Chính phủ bổ sung thêm nhiệm vụ. Nói một cách đơn giản là chấp nhận hy sinh hiệu suất phát điện để chống lũ. Trước đề xuất này, phản ứng kịch liệt nhất là bên điện. Nhóm phóng viên đã nhiều lần liên hệ làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam nhưng đến thời điểm hoàn thành bài viết này vẫn chưa nhận được phản hồi chính thức.

Phó Cục trưởng Quản lý tài nguyên nước Ngô Mạnh Hà nhấn mạnh: Nước là tài nguyên! Nếu để dành quá nhiều dung tích cắt lũ, mùa hạn thiếu nước, thiệt hại nhiều khi lớn hơn mùa lũ. Đợt sửa quy trình này sẽ tăng thẩm quyền cho người đứng đầu địa phương, cụ thể là Chủ tịch tỉnh, không phải cái gì cũng đưa lên Chính phủ.

Theo quy trình, chỉ khi cả ba hồ chứa Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H’năng đồng thời đề nghị dâng nước, Chủ tịch UBND tỉnh mới được đề nghị lên Thủ tướng Chính phủ. Vào thời điểm đỉnh lũ về Ba Hạ, Chủ tịch UBND tỉnh khi đó vẫn đề nghị Thủ tướng cho dâng nước, cắt lũ. Lúc đó, Thủ tướng ủy quyền cho Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng. Nước dâng 0,96m chỉ tác động thêm chưa đến 0,1 át-mốt-phe lên thân đập. Nếu biết hệ số an toàn của đập thủy điện là 1,25 với đập bê-tông và 1,5 đối với đập đất, hoàn toàn có thể yên tâm khi cho phép dâng nước thêm 0,96m ở Ba Hạ. Tuy nhiên, khi ấy đã phải mất hơn 2 giờ đồng hồ để ra quyết định từ cấp trên.

Suốt hơn 3 tháng khảo sát thực tế, làm việc với các cơ quan chức năng, nhóm phóng viên nhận thấy hầu hết các vụ mất an toàn hồ đập đều có nguyên nhân tích nước khi mùa lũ chưa kết thúc. Dung tích cắt lũ không còn, hồ chứa không thể điều tiết khi xảy ra lũ lớn. Đây là sai phạm quy trình!

Quy trình vận hành liên hồ chứa thực chất là bài toán bể nước với một vòi chảy vào, một vòi chảy ra, làm thế nào để không tràn bể? Vận hành hồ chứa để bảo đảm an toàn, hoặc giảm thiểu thiệt hại cho hạ du thì không phức tạp. Vấn đề là xung đột lợi ích của chủ hồ, người sở hữu tài nguyên nước và cộng đồng dân cư dưới hạ du. Hóa giải được xung đột lợi ích này sẽ có Quy trình vận hành liên hồ chứa hoàn thiện!

“Ngáo ộp” hồ chứa thủy điện (kỳ 1)

Có thể bạn quan tâm

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.