Mảnh hồn làng treo bên phố (kỳ 3)

Kỳ 3: Lực bất tòng tâm?

Không gian làng tre Phú An.
Không gian làng tre Phú An.

Cuối năm 2010, Dự án phát triển cộng đồng và bảo tồn tre, thường được gọi là Làng tre Phú An (huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũ, nay là xã Phú An, TP Hồ Chí Minh), trao Giải thưởng Xích đạo (Equator Prize) tại phiên họp về đa dạng sinh học trong khuôn khổ cuộc họp Đại hội đồng Liên hiệp quốc 2010 ở New York.

Năm 2012, công việc sưu tầm thu thập giống tre ở làng tre cơ bản hoàn tất. Lúc đó, vấn đề đặt ra chỉ còn là phát huy giá trị với cộng đồng. Và cũng từng đó năm, làng tre vẫn dậm chân tại chỗ ở phương diện này.

Chỉ có mỗi mặc áo dài chụp ảnh

Trung tâm bảo tồn sinh thái Phú An khởi nguồn từ một dự án của tỉnh Bình Dương (cũ) kết hợp với Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, do sáng kiến của TS Diệp Thị Mỹ Hạnh. Tới năm 2003, trung tâm được xây dựng và tới 2008 đi vào hoạt động. Sau những cuộc sáp nhập, thay đổi, hiện dự án chia làm 2 đơn vị, một là Trung tâm bảo tồn sinh thái Phú An, một là Trung tâm nghiên cứu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Trung tâm bảo tồn sinh thái Phú An rộng 10 ha, cùng với nhiều giống tre đặc trưng từ mọi miền đất nước. Có loài phổ biến như luồng, tre gai, có giống đằng ngà Nam Trà My, có tre vuông Bắc Cạn, trúc tím Hà Giang… Hiện có khoảng 90% giống tre Việt Nam đã được trồng ở đây, tạo nên một không gian xanh với chất làng quê đặc biệt.

Giai đoạn từ 2008 tới năm 2010, trung tâm đón trung bình khoảng 7.000 lượt khách một năm. Còn hiện tại, sau gần 20 năm, lượng khách chỉ còn khoảng 3.000-5.000 một năm. Giám đốc Trung tâm bảo tồn sinh thái Phú An hiện nay, ông Nguyễn Văn Đông bày tỏ, cái khó nhất là dịch vụ và sản phẩm của trung tâm còn kém. Để hút khách, cần có các sản phẩm, cần có hoạt động. Nhưng trung tâm chỉ duy trì mở cửa cho khách vãng lai vào tham quan, chưa có các hoạt động thường xuyên để quảng bá. Một vài đoàn khách tới thuê làm phim trường, cắm trại, nhưng con số không đáng kể và gần như không đem lại nguồn thu cố định. Hiện trung tâm hoàn toàn hoạt động bằng nguồn kinh phí nhà nước 2 tỷ đồng mỗi năm, đã bao gồm cả tiền lương nhân viên, tiền duy trì, xử lý mối mọt cho cây...

Ông Nguyễn Văn Đông bày tỏ: “Ý tưởng thì mình có nhiều, nhưng vướng cơ chế, nên lực bất tòng tâm”. Cách đây hơn 10 năm, ông Đông nói đã tìm tới các nghệ nhân làm sản phẩm từ tre ở Phú An, bày tỏ mong muốn họ về làng để biểu diễn cho khách tham quan. Cũng phải nói trước khi lên phố, hai bên sông Sài Gòn ở đây đều xanh mướt màu tre. Nhiều nhà ở Phú An cũng làm nghề thủ công mỹ nghệ với cây tre. “Nhưng giá thị trường thì phải trả ít nhất 600 nghìn đồng/người/ngày, mà kinh phí thì không có”, ông Đông kể lại. Bây giờ các nghệ nhân Phú An đều đã già, ông cũng không rõ họ còn làm nghề nữa không. Bản thân làng tre nếu đón khách cũng khó có gì để giữ khách, vì nơi này cũng không có dịch vụ lưu trú hay ăn uống. Điều duy nhất khách có thể làm, là “mặc áo dài chụp ảnh”, như ông Đông thừa nhận.

Trước dịch Covid-19, làng tre cũng có lúc sôi động, cũng đã có các chương trình kết nối hợp tác. Nhưng sau dịch thì mọi việc chững lại và đến nay cũng chưa tiến triển gì hơn. “Chẳng hạn khách đoàn mà tới độ 500 người là mình không đủ lực tiếp. Nhà vệ sinh cũng không có. Nếu có đoàn đặt đông thì chúng tôi đã phải thuê nhà vệ sinh di động tới rồi”, ông Đông trần tình.

Bởi vậy, trong không gian 10 ha cây xanh mướt này, cảm giác đầu tiên chính là sự lãng phí. Lãng phí là bởi đây là làng tre duy nhất Việt Nam, hơn nữa có lợi thế lớn về vị trí, nằm gần sông Sài Gòn và chỉ vài chục cây là vào trung tâm TP Hồ Chí Minh. Đó là khoảng cách quá tốt cho một chuyến tham quan du lịch trong ngày kiểu city tour. “Ai cũng nói lãng phí nhưng chúng tôi cũng lực bất tòng tâm”, ông nói. Hiện làng tre cũng không bán vé tham quan vì “chưa có cơ chế”.

52.jpg

Để neo làng bên phố

Từ một tỉnh đô thị hóa hàng đầu cả nước, sau sáp nhập, Bình Dương đã trở thành một phần của thành phố năng động và phát triển nhất cả nước - TP Hồ Chí Minh. Nơi đây luôn dẫn đầu về những chỉ số năng động, phát triển, thu hút đầu tư. Đưa lên bàn cân được mất, người ta sẽ phải chấp nhận nhiều thứ mai một. Trong sự phát triển, ngay cả trái cây thương hiệu như măng cụt Lái Thiêu, di sản nghệ thuật như sơn mài Tương Bình Hiệp hay một dự án được giải như làng tre, cũng có thể bị đối mặt với sự chậm trễ hoặc bỏ phí nào đó.

Nhưng giữa những tòa cao ốc của thành phố, hẳn con người vẫn cần những không gian của xóm làng. Làng tre Phú An, với không gian đặc biệt của nó, còn là một tiềm năng để trở thành bảo tàng tre độc nhất vô nhị Việt Nam. Ông Trần Trọng Khánh, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Phú An cũng nhận định làng tre có ý nghĩa rất quan trọng với địa phương: “Đó là công trình bảo tồn gene tre lớn nhất Việt Nam. Mình giữ được hệ sinh thái xanh đó và qua đó góp phần nâng cao được cái ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng. Hình ảnh cây tre luôn gắn liền với cái truyền thống văn hóa tinh thần đoàn kết cần cù và kiên cường của dân tộc Việt Nam chúng ta. Những nơi như làng tre cũng góp phần giáo dục cho các thế hệ trẻ về giá trị văn hóa truyền thống”. Hơn nữa, một ngôi làng cũng không hề đi ngược với xu hướng phát triển hiện đại, “Đây cũng là cái nguồn lực quan trọng để phát triển về du lịch xanh cũng như là du lịch trải nghiệm, gắn với cái mục tiêu bền vững”, ông Khánh nói.

Dành một góc đô thị cho những mảnh hồn làng thực ra không hề là câu chuyện bất khả thi. Măng cụt Lái Thiêu, sơn mài Tương Bình Hiệp hay làng tre Phú An, đều đã có dự án và giải pháp trên giấy. Quan trọng hơn cả, ở đó vẫn còn những con người sẵn lòng góp tay gìn giữ, như anh nông dân Năm Trợ bù lỗ cứu vườn măng, như nghệ nhân Trương Quang Tịnh, Lê Bá Linh giữ xưởng sơn mài. “Cũng cần có chỗ để những người lớn tuổi làm việc chứ”, nghệ nhân Lê Bá Linh nói về việc cố gắng duy trì xưởng sơn mài giữa khó khăn thiếu đầu ra hiện nay. Hoặc như những vườn măng cụt An Sơn, ngay cả khi chỉ để hòa vốn, thì những người nông dân vẫn quyết giữ bằng được cây măng. Có năm chẳng hiểu sao mạng xã hội rộ lên phong trào gỏi gà măng cụt, giá măng non cao gấp rưỡi măng chín, nhưng người dân ở An Sơn vẫn không bán. “Hái măng cụt non dễ hỏng cành, phải vài năm nó mới mọc lại, nên phải giữ cây”, ông Tám Viễn, Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp và dịch vụ An Sơn giải thích.

Vùng đất này vẫn đầy tiềm năng để có những không gian “của tin còn một chút này làm ghi”. Những nơi ấy trong mọi hoàn cảnh đều có thể là một điểm nhấn văn hóa độc đáo.

Nhà thơ Nguyễn Duy từng cảm thán:

“Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”.

Không phải là không có vầng trăng, chỉ là đôi khi ánh đèn đô thị đã lấn át nó. Làm sao để không phải giật mình nếu như có trót nhìn thấy vầng trăng nữa?

Đấy là một bài toán giữa lòng đô thị, mà nếu không làm nhanh, thì dễ vầng trăng cũng biến mất.

Có thể bạn quan tâm

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.