Dần dà, phố vắng mặt tiền. Những cửa hiệu lấp lánh gương kính, đèn mầu đẩy những gian sau, là tầng lầu vuông hộp không có ban công. Đêm chớm thu, làm về muộn tôi phóng xe chậm lại để tận hưởng chút se lạnh, thèm một ngụm trà ấm. Đi miết thì vẫn có một gian nhà nhỏ, lọt thỏm với mái ngói rêu phong là ánh điện sáng nhạt. Căn nhà chỉ có hai ông bà già, chén trà nóng, cái điếu thuốc lào, vài hộp kẹo... Giờ thì cả phố đã đóng cửa im lìm, cái quán nhỏ của ông bà lại thức, tôi mới nhận ra, mình đang ngồi giữa một ô vườn nhỏ, vẫn những viên gạch lát xưa, cây lưỡi hổ, cây xương rồng, khóm hồng, khóm nhài còi cọc vẫn gượng nở... bên ồn ào xe cộ. Những bông hoa bé nhỏ như không hướng ra phố mà hướng về phía hai cái bóng khắc khổ, già nua in trên tường.
Tôi ngước nhìn cái số nhà mới toanh rồi lục lọi trong trí nhớ vẫn không hình dung ra hình bóng của họ thời trẻ. Tuổi tôi chỉ thuộc hàng con cháu nhưng gia đình tôi cũng đã đến ở con phố này gần ba mươi năm sao chưa từng thấy họ?
Phải lâu lắm, một mùa thu khác tôi mới ghé lại ô vườn có những chén trà nóng bên khóm hoa nhài ấy. Hoa đã nở nhiều hơn, dưới gốc cây lan có thềm bàn cờ tướng nhưng trên tường chỉ còn một chiếc bóng. Bà cụ đã để lại cho ông mảnh vườn đầy ký ức của xóm công trường. Giờ nhà cao đã lấp đi ký ức những con mương, ký ức công trường thủy điện sông Đà bụi bặm nhưng còn đó ô vườn trước căn nhà tập thể mà hai vợ chồng đổ bao công sức đào lớp đá sỏi đổ đi, lấy phù sa từ sông về để trồng những khóm hoa. Ông già bảo:
Hoa không làm no nhưng có hoa như có những đứa con, vợ chồng tôi vượt qua cái đói.
Vợ chồng ông bà không có con.
Như bao ông bà lão trong cổ tích, hoa cứ ngày qua ngày giữ hương thoang thoảng chén trà. Khách cứ đến thay phiên nhau ngồi vào chiếc ghế gỗ thông dài, chiếc ghế chỉ đủ hai chỗ ngồi. “Trà tam, rượu tứ”, bạn bè đủ loại từ đi xe sang đến xe đạp cà tàng, ai cũng ngó nghiêng, uống cạn chén trà rồi lại vội ra đi.
Có người bảo sớm nào ông cụ cũng ra ngoại ô lấy nước pha trà, thứ nước ở chiếc giếng cổ cách xa những khu dân cư nên trà ngon. Người khác lại bảo ông pha ấm nhỏ, trà đậm không như mấy quán trà đá. Tôi chẳng thấy trà của ông khác những quán kia là mấy, nhưng đúng là được ngồi lọt thỏm trong không gian ấy, nghe những cái cây cựa mình ra hoa, kết quả, rồi có khi hoài niệm tưởng tượng cả dãy phố vẫn như ngày nào dọc những ô vườn. Những trưa tan ca, đám trẻ nhao nhao chờ mẹ đòi quà, những cái xe đạp dựng bờ rào, tình làng nghĩa xóm đậm đà như thôn quê...
Thiếu ô vườn còn lại của ông cụ liệu còn ai nhớ ngày xưa? Có thể lúc nào đó vẫn nhớ ra nhưng lấy đâu ra khoảng không để tìm về ký ức như thế nữa.