Bà tôi hồ hởi: “Lâu lâu phải giải ngố!”. Tôi lạ lắm, vì đứng giữa chợ đó, tôi cũng nhìn thấy những dãy núi thật cao chung quanh, dù ở phía xa xa. Lớn dần, tôi quen với khái niệm mọi người gọi làng tôi là “trong rừng” và gọi dân làng chúng tôi là “người rừng”.
Nơi chôn nhau cắt rốn của tôi là một ngôi làng nằm lọt thỏm giữa bốn bề là rừng núi như bát úp nối đuôi nhau. Ông bà tôi kể, trước đời cụ tôi ở ngoài thị trấn nhưng người đẻ thêm người trong khi đất không đẻ, thúng hến thúng trai buôn đi bán lại của bà nội tôi không đủ nuôi sáu miệng ăn nên cả đại gia đình khăn gói quả mướp vào rừng khai hoang canh tác, làm rẫy lợp nhà.
Chỉ có một con đường lớn độc đạo chạy từ cổng làng tới cuối làng. Nhà tôi nằm cuối đường, hẻo lánh nhất giữa ngôi làng hẻo lánh. Nếu vẽ một bức tranh phong cảnh làng tĩnh thì chắc sẽ hơi đơn điệu vì chỉ thấy phủ lên một màu xanh thẫm của rừng và những chấm nhỏ nóc nhà lợp ngói fibro xi-măng trăng trắng. Nhưng nghệ thuật và thực tế luôn có khoảng cách mà! Chúng tôi đã sống một cuộc đời vô cùng sôi động, ấm áp, nhiệt thành ở ngôi làng đó và luôn biết ơn rừng.
Rừng ngày trước là “cần câu cơm” của người làng tôi, trong đó có ông bà, bố mẹ tôi. Khi năng suất của những mảnh ruộng bậc thang nhỏ còn thấp, chẳng đủ thổi đầy nồi cơm ngày ba bữa, ông bà tôi cặm cụi vào rừng từ sáng tới đêm hết chặt củi, chặt gỗ lại hái cây thuốc về băm chặt mang ra chợ huyện bán. Sau đó, người dân được nhà nước giao đất giao rừng, ý thức bảo vệ rừng tốt hơn. Nhà nhà tích cực trồng keo, bạt thông mã vĩ, liễu, bạch đàn… để có nguồn thu chủ động.
Ngoài giờ học, hai chị em tôi tíu tít như cái đuôi theo bố mẹ đi lên rừng làm đủ việc: Trồng cây, phát đường băng… Mỗi buổi lên rừng vạc thông hay đổ nhựa thông, chúng tôi vui không kém gì được ra chợ phố. Buổi trưa cả nhà nghỉ chân giữa rừng, ăn cơm nắm muối vừng, hấp mì ăn liền nóng lấy nước chan cơm. Chị em tôi gọi đó là dã ngoại. Rừng dù nắng hay mưa ẩm thì muỗi lúc nào cũng từng như tập đoàn. Hở chỗ nào là bị chích chỗ đó. Đường rừng dốc, lối nhỏ quanh co, có chỗ phải rẽ cây lá mà đi. Áo bố mẹ lúc nào cũng ướt đẫm, cảm tưởng có thể vắt ra được mồ hôi. Vất vả trăm đường nhưng hai người vẫn cứ bán cả mặt lẫn lưng cho rừng từ ngày này qua tháng khác không một lời kêu than. Bởi rừng là nghề, là nghiệp, là kế sinh nhai của nhà tôi, như bao nhà khác ở làng.
Sự bao dung của rừng không chỉ dành cho người lớn mà còn đặc biệt dành cho con nít chúng tôi. Nếu câu cửa miệng của chúng tôi là “Đi chơi đi” thì chắc chắn 99% chỗ chơi đó là trên rừng. Rừng có nhiều lau sậy để chúng tôi đánh trận giả, có nhiều lá bứa với me rừng ngon xuýt xoa, có nhiều bãi sim quả chín to mọng như bụng con trâu. Những buổi trưa chúng tôi trốn bố mẹ lên rừng hái lá lợp nhà, hái hoa rừng chơi nấu ăn, tiếng cười, tiếng nói dội vào tán lá, làm thức giấc những bầy chim.
Cuộc sống của nhiều thế hệ cứ tiếp nối dưới tán rừng như thế. Hũ gạo trong nhà cứ vơi lại đầy. Những đứa con của các bố mẹ chợt lớn phổng lúc nào không biết. Có đứa chọn bay khỏi rừng để “ra phố” như tôi, theo đuổi những chân trời mới nhưng lòng vẫn đau đáu nhớ những cánh rừng mỗi đêm. Nhưng cũng có những đứa chọn ở lại, như em gái tôi, lấy chồng trong làng, hai vợ chồng tiếp tục bám rừng làm kế sinh nhai và truyền tình yêu “rừng vàng biển bạc” lớn lao cho đời kế tiếp.
Kiếp người phong ba, thế gian xoay vần. Nhưng xuân hạ thu đông, rồi sẽ lại xuân. Rừng đổi sắc qua bao mùa lá thì vẫn sẽ luôn ước hẹn màu xanh ngát. Rừng bao dung người ở lại. Và cũng mở rộng vòng tay chào đón những trái tim quay về.