Những người ở Làng

“Chắc là các anh không biết, cho tới lúc này, dù đã hết sức cố gắng, Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam chỉ có thể hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc về ở trong Làng, trong đó có trích từ nguồn thu bán vé cho khách tham quan, khoảng hai triệu đồng”. Bất ngờ lớn nhất khi chúng tôi làm việc với Ban Quản lý của Làng là như thế.

Tranh thủ tập luyện trong mùa dịch.
Tranh thủ tập luyện trong mùa dịch.

Nhu cầu bức thiết

Có thể nói kế hoạch đưa bà con về hoạt động thường xuyên ở Làng thật sự đã giúp cho bộ mặt của khu vực này thêm sinh động. Việc đưa 13 nhóm cộng đồng các dân tộc (Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Mường, Thái, Khơ Mú, Tà Ôi, Cơ Tu, Xơ Đăng, Ba Na, Ê Đê, Khmer) về đây sinh sống theo hình thức luân phiên ba tháng đã biến một quần thể những mô hình kiến trúc, văn hóa (dù là rất đẹp về hình thức) thành một quần thể sống trực quan đa sắc màu, đa diện.

Thông tin từ Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho biết, trước thời kỳ dịch bệnh bùng phát, hoạt động thường xuyên của đồng bào các dân tộc tại Làng đã tạo sức sống mới cho nơi này từ khi chưa có người (chỉ có người khi tham gia sự kiện). Từ số lượng khách 250 nghìn lượt năm 2015, lên tới 500 nghìn lượt năm 2019. Cho tới năm 2020, số lượng người đến Làng chỉ còn 30%. Đến lượt giãn cách thứ tư này ở Hà Nội, cả Làng chỉ còn mỗi cư dân với mấy nhân viên bảo vệ. Nói bảo vệ cho oai, chứ mỗi nhân viên bảo vệ được nhận vỏn vẹn một triệu đồng lương/tháng. Cũng chẳng hiểu họ xoay xở kiểu gì để sống trong thời giãn cách.

Ở khu làng của người Tà Ôi, tính từ đợt giãn cách thứ tư này chỉ còn có ba phụ nữ ở lại. A Viết Thị Tâm, phó đoàn, quê ở mãi huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế ra Làng từ tháng 4/2021 rồi trụ lại. Cả đoàn bảy người cùng nhau sinh sống với nhiệm vụ giới thiệu nghề dệt Dèng truyền thống, đồng thời giao lưu với khách tham quan đến Làng. Tháng 6 vừa rồi, bốn người về quê rồi không ra được vì vướng dịch. “Ở đây được hai triệu đồng tiền hỗ trợ cộng với nhà ở, điện nước không phải trả tiền, mỗi tháng dành dụm lại mỗi người cũng được một triệu đồng”. Đi từ nhà Ba Na, xuyên qua nhà của người Tà Ôi là khu vườn đẹp dựng đầy tượng gỗ. Nhà Tà Ôi, nơi mấy người phụ nữ đang ở có vườn trồng thêm mấy loại cây trái mang ra từ Huế. Mấy cây ớt hiểm trong vườn. Cây đoác nằm ở cổng vườn, khung cửi làm nên danh hiệu văn hóa phi vật thể dệt Dèng nằm dưới gầm nhà sàn, có vẻ lâu không có người sử dụng.

Dường như, việc về sinh sống và hoạt động tại Làng có vẻ dễ dàng đối với những bà con đồng bào phía bắc. Điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng giúp cho họ không bị “sốc” khi về ở tại Làng, đồng thời tận dụng lợi thế nhà gần. Đồng bào Mường, Thái vẫn có thể kinh doanh những mặt hàng lâm thổ sản để kiếm thêm thu nhập. Nhưng đối với những bà con ở Tây Nguyên, nhất là bà con vùng đồng bào miền Tây Nam Bộ thì đối diện những khó khăn về thời tiết cũng đã là chướng ngại cần phải vượt qua.

“Ở đây nóng thì nóng lắm, rét thì rét quá! Mà rét thì còn chữa được, chứ nóng không chịu nổi!”, bà Lâm Thị Hương, Trưởng đoàn nghệ nhân đồng bào Khmer tâm sự thế. Quả thật, ở miền quê chỉ biết hai mùa mưa nắng (xã Tài Văn, huyện Trần Đề, Sóc Trăng) ra ở tại vùng đất vốn nổi danh đá sỏi thì việc làm quen thời tiết cũng là cố gắng lắm rồi. 

Những ngôi nhà của đồng bào Khmer nằm nép bên những gốc chà là, cạnh chùa Khmer khá đẹp. Cũng như những cụm khác, mỗi người ở đây được Làng hỗ trợ hai triệu đồng. Mỗi tháng, tỉnh Sóc Trăng cũng hỗ trợ cho nhóm đồng bào của mình thêm mỗi người một triệu đồng. Dịch dã, cơ bản là khoản tiền vốn để dành dụm đã bị “thâm hụt” vào mất 2/3. Bà Hương cùng chồng là ông Sơn Del ở đây đã sáu năm mà chưa một lần đưa được con cháu ra thăm Hà Nội. Hỏi: đã có tuyến xe bus từ trung tâm thành phố về làng sao không đi cho biết? thì được trả lời ngắn gọn “đi lại không biết đường, sợ bị lạc”.

Những người ở Làng -0
Thu hoạch lúa trong không gian Làng. 

Chờ những tín hiệu tích cực...

Có thể hiểu rằng, đồng bào các dân tộc đến sinh hoạt tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam có “nhiệm vụ” cực kỳ quan trọng là đại diện cho dân tộc mình gặp gỡ, giao lưu và quảng bá hình ảnh văn hóa đặc trưng của từng dân tộc. Nói cho “nghiêm trọng” thì là như vậy, nôm na là thể hiện hình ảnh cho những người đến Làng nhìn, gặp, trò chuyện để thêm phần trải nghiệm về cuộc sống đồng bào phong phú.

Kỳ vọng về một Làng văn hóa, du lịch phát triển với những nhân chứng cụ thể có thể nhìn thấy rõ ràng từ việc quy hoạch khu vực nhà ở của 54 dân tộc. Việc đưa đồng bào về hoạt động cũng đã cho thấy hiệu quả tích cực của nó. Nhưng, như những gì mà lãnh đạo Ban quản lý trao đổi, thấy vương vấn những tâm tư.

Hiện nay, việc hỗ trợ kinh phí cho các nhóm nghệ nhân về tham gia hoạt động hằng ngày tại Làng là hai triệu đồng/người/tháng. Hỗ trợ công tác bảo tồn, phát huy nghề truyền thống là ba triệu đồng/nhóm cộng đồng/tháng tính chung cho tất cả nhóm cộng đồng. Trong việc hỗ trợ, chưa có cơ chế hỗ trợ khác biệt cho từng nhóm có nghệ nhân chất lượng cao, hoạt động tốt. Nói là hỗ trợ nên con số quả thật là quá... thấp. So tầm cỡ của một công trình tầm cỡ quốc gia. Cũng bởi thế, khi tiếp cận với mỗi nhóm đồng bào từ xa về tham gia hoạt động, có vẻ như sức hỗ trợ về kinh tế như trên chưa đủ để cho bà con yên tâm ở Làng. 

Có thể thấy, quan điểm nâng cao khả năng cạnh tranh, khai thác phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn, phát huy những giá trị độc đáo của đồng bào dân tộc, xác định đồng bào chính là “chủ thể nòng cốt” trong việc phát triển du lịch tại Làng và xuyên suốt trong mọi hoạt động vẫn là chủ trương đúng đắn để phát triển mô hình này trong thời gian sau đại dịch. Nhưng để triển khai một cách cụ thể, cần thiết phải có những quyết sách hợp lý từ phía cơ quan chủ quản và các đơn vị chức năng liên quan.

Được biết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mới nghiên cứu quy chế phối hợp giữa Bộ với UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc T.Ư trong công tác chỉ đạo, huy động đồng bào về tổ chức hoạt động hằng ngày tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Trong đó, có tăng cường hiệu quả phối hợp giữa cơ quan bộ với các tỉnh, thành phố để thực hiện kế hoạch tuyển chọn người một cách kỹ lưỡng; tái hiện được các lễ hội truyền thống, nghi lễ đặc sắc của các dân tộc; đồng thời có thể khai thác du lịch gắn với việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. 

Nhìn vào quyết tâm của cơ quan cấp bộ, có quyền hy vọng về một cộng đồng dân tộc đông đảo với các nền văn hóa đặc sắc ngay tại Thủ đô. Và khi ấy, những người ở Làng có lẽ cũng không dừng ở con số 13 dân tộc. Cuộc sống hằng ngày của bà con cũng sẽ thật sự đổi khác, góp phần tích cực giới thiệu những hình ảnh đặc sắc về dân tộc mình, làm nên bức tranh đẹp đẽ về cộng đồng các dân tộc Việt Nam.