<p>Thơ trẻ dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại</p>

Những bước chuyển

Truyền thống và hiện đại, tiếp thu và sáng tạo... là cụm từ xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng khi đề cập đến văn chương hai thập niên qua. Song trên thực tế, chưa ai chỉ ra cho ta thấy cụ thể đâu là truyền thống văn học dân tộc từ Chăm đến Tày; từ Khmer đến các dân tộc thiểu số Tây Nguyên... Dường như ta cứ hiểu mơ hồ, làm mơ hồ, để rồi xảy ra bao ngộ nhận.

1. Ngộ nhận, nên ta cứ đinh ninh mấy ê hê, thổ cẩm, thắng cố, vòng xòe, ap-sa-ra, cái gùi, buôn plây phum sóc... là dân tộc. Cứ đưa thật nhiều ngôn từ cụ thể, lối nghĩ sơ giản, lối nói dân dã mộc mạc vào thơ là mặc nhiên ta đã đậm đà bản sắc. Từ đó, ta vỗ về và ca tụng, phê bình và nhận định tác phẩm của nhau. Vô hình chung, các cụm từ kia trở thành khẩu hiệu sáo rỗng, mất hết hồn vía. Vẫn các đề tài quen thuộc và vài thể thơ quen thuộc; quanh đi quẩn lại vẫn số lượng từ vựng quen thuộc với các thủ pháp nghệ thuật quen thuộc. Lặp đi lặp lại. Không khác, không dám thử bước chệch khỏi quỹ đạo đã vạch sẵn - dù chỉ một lần. Chúng ta cứ thế mà 'đậm đà bản sắc dân tộc'.

2. Văn chương cổ điển, dân tộc thiểu số đã cống hiến nhiều cái khác lạ cho nền văn học đa dân tộc Việt Nam. Sử thi Ðam San, Xinh Nhã, Xống Chụ Xôn Xao, Ðẻ đất đẻ nước, Mo Mường... Ðó gần như là nguồn suối vô tận cho thế hệ đi sau 'tiếp thu và sáng tạo' nên những tác phẩm mới, để có đóng góp mới. Nhưng hỏi các thế hệ vừa qua, và cả thế hệ hôm nay, chúng ta đã làm được gì với kho tàng trân bảo phong phú kia do ông bà để lại? Câu trả lời vẫn còn khá khiêm tốn. Khiêm tốn, khi các nhà thơ Tày, Nùng, Chăm, Thái..., thể hiện qua ngôn ngữ dân tộc, cả khi ta thể hiện qua ngôn ngữ phổ thông là tiếng Việt. Mãi đến hôm nay - ngoại trừ Chăm với đặc san Tagalau, sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu Chăm - các dân tộc thiểu số Việt Nam vẫn chưa có tạp chí riêng của mình. Chưa có nhu cầu, có lẽ. Thậm chí có dân tộc còn chưa có nhà văn nhà thơ của mình.

Chăm thì sao? Văn chương không chủ ở số lượng. Nếu bạn góp thêm một Sử thi Akayet Dewa Mưno hay một Trường ca Ariya Glơng Anak mới vào kho tàng văn chương Chăm, thì kho tàng đó không vì thế mà giàu sang thêm. Vấn đề là cái khác, sự độc đáo. Vậy Chăm có cái gì khác?

250 minh văn Chăm-pa được sáng tác từ thế kỷ 3 đến thế kỷ thứ 15 bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ là cái được kể đầu tiên. Các Sử thi - Akayet Chăm có xuất xứ từ/ mang âm hưởng Mã Lai/ Ấn Ðộ được viết vào thế kỷ 16 - 18, là sáng tác thành văn đặc trưng Chăm. Các sử thi này đã được văn bản hóa từ thế kỷ 16. Bên cạnh các trường ca triết lý, ba Trường ca - Ariya trữ tình nổi tiếng mà nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa Hồi giáo - Bà-la-môn giáo dẫn đến đổ vỡ và cái chết, cũng là một dị biệt khác. Riêng về hình thức: Ariya - lục bát Chăm là thể thơ gần giống lục bát Việt với cấu trúc rất linh hoạt. Vân vân...     

Nhưng giữa bạt ngàn sáng tạo của tổ tiên từ ngàn năm trước, sau đó là thế hệ của Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Ðoàn, Vương Trung cho đến Y Phương, Lò Ngân Sủn, Mai Liễu..., thế hệ thơ trẻ dân tộc thiểu số hôm nay đã có nỗ lực nào để 'tiếp thu và sáng tạo' văn học? Và đâu là cái tinh túy đầy bản sắc, để các thế hệ tiếp nối dẫu luân lạc đến tận chân trời xa lạ nào, vẫn không thể đánh mất sợi dây liên kết với cuống rốn kia, khi sáng tác?

3. Cái khác biệt rõ nhất chính là ý thức về cá nhân và thân phận, về sinh thể mang tên con người là 'tôi' trong lòng xã hội Chăm giữa cộng đồng Việt Nam.

Họ hiểu mình vừa bị đánh bật gốc khỏi nền văn hóa dân tộc qua cơn phấn khích đầy háo thắng trong cuộc vật lộn với cơm-áo-gạo-tiền, trong hướng vọng chiếm lĩnh đỉnh cao. Có thể nói, không người trẻ tuổi nào khi cầm bút viết văn làm thơ mà không ý thức đến tồn vong của văn hóa dân tộc. Tại sao tôi viết thơ? Tại sao là tiếng Việt mà không là tiếng Chăm, Tày, Ba Na? Văn bản này dành cho ai? Ai đọc nó? Và nó sẽ đi về đâu, ngày mai? Những câu hỏi dễ dẫn họ vào vùng tối. Tuệ Nguyên (dân tộc Chăm):

Tôi đi vào con đường không có bảng chỉ dẫn

mỗi lần lầm lạc tôi bắt đầu đánh dấu.

Nhưng có phải để bảo vệ bản sắc, muốn ôm khư khư truyền thống mà các thi sĩ trẻ Chăm sợ hãi ngó ra ngoài? Ngược lại là khác. Ưu tư, tìm tòi và khám phá lại. Tuệ Nguyên đã dũng mãnh dấn bước trên con đường mù mờ đó. Thế giới thực là ở bên kia hiện thực đời sống ngày qua ngày, một thế giới mới lạ nhiều cuốn hút đòi hỏi phương cách chinh phục lạ biệt:

Tôi đang sống cùng thời đại với họ,

nhưng khi họ cứ mải mê dò từng bước để đi thì tôi lại nằm một xó tập bay...

Gom góp để bảo tồn, họ sẽ làm kẻ giữ kho của cha ông, không hơn. Tiếp thu và sáng tạo. Tiếp thu mình và thiên hạ để làm ra cái mới. Bản sắc văn hóa dân tộc như là bất di bất dịch mà là các sáng tạo trầm tích qua nhiều thế hệ. Có thể nói đấy là tiếp thu và sáng tạo được ông cha ta chia ở thì quá khứ. Thế hệ đến sau sẽ gọi là bản sắc, điều họ đang dốc sức sáng tạo hôm nay. Chưa xa trước đó, Bùi Tuyết Mai 'xuống phố' nhẹ nhàng 'mùi hoa sữa', 'bóng chim xanh', 'bóng chú mèo' yểu điệu cổ điển của một thời xa lơ lắc, Jalau Anưk đã rất khác. Anh thôi thúc người cùng thế hệ dũng cảm bước tới, cũng là cách tự thôi thúc mình:

Ði đi em! Ði đi! - Mang hình em vào phố/ tỏa hơi em vào phố

chìa cả sần sùi bàn tay em vào phố/ và lớn lên cùng phố...

phố không nuốt chửng em đâu/ bởi phố trú dưới vòm trời - rộng lắm!

mà ở đâu dưới vòm trời cũng có những mái nhà cho cả em, anh

'Phố không nuốt chửng em đâu', thì tại sao phải ngại ngần? Thế hệ trẻ dân tộc thiểu số hiểu mình phải nhập cuộc, nếu không để bị bỏ lại. Nhập cuộc trọn vẹn vào cuộc sống sôi động hôm nay. 

Khác với đại đa số nhà thơ thế hệ vừa đi qua mà đề tài chỉ dừng lại ở những gì gần gũi, quen thuộc với không gian văn hóa nông nghiệp, các bạn trẻ quan tâm đến các đề tài rộng hơn, góc cạnh hơn. Ðó là cái khác đầy phản tỉnh và phản biện. Họ không nhìn hiện thực một chiều mà nhiều chiều.

Cách nhìn khác đòi hỏi một lối viết khác. Thủ pháp so sánh chẳng hạn. Trước đó không lâu, ta thấy Y Phương dùng thủ pháp so sánh: Oa oa oa/ mẹ mừng ngây như đá... / Mẹ ngủ/ mẹ ngủ mềm/ ngát như hoa...; Lò Ngân Sủn: Người đẹp trông như tuyết/ Sờ vào lại thấy nóng; hay Dương Thuấn: Em hãy ngủ như trăng sao ngủ... So sánh luôn so sánh đơn, các mẩu vật gần, quen thuộc. Các cây bút trẻ hôm nay đã rất khác. Thủ pháp so sánh phức hợp, nhiều tầng liên tưởng đòi hỏi sức tưởng tượng của người đọc. Cùng với tiếp nhận từ cha ông, họ không từ chối vận dụng mọi thủ pháp học được từ bên ngoài. Hiện thực, hiện thực huyền ảo hay siêu thực, cả tân hình thức hoặc thơ trình diễn.

4. Dù gì thì gì, dẫu có phiêu lưu khai phá tới đâu, dẫu cư trú tận đất trời nào, thi sĩ dân tộc thiểu số thuộc mọi lứa tuổi vẫn chưa bao giờ vĩnh viễn rời xa nguồn cội. Như Hoàng Thanh Hương:

Buôn xa/ em gùi gió mưa về/ hoang dại chiều ơi tóc nâu mắt nâu gót trần cỏ cứa/ dã quỳ tàn trong gió/ thảng thốt tiếng chim kêu bầy thảng thốt tiếng gió lạc/ bên tai vấn vít lời ướm hỏi em chưa muốn bắt anh về/ gầm sàn nhà em chưa đầy củi áo chăn em dệt chưa nhiều/ em chưa thuộc hết lời amí dạy người có thương em thì đợi...

Dù thế nào đi nữa, chỉ khi những đứa con tha phương trở về như là trở về, thì mọi truyền thống và hiện đại, tiếp thu và sáng tạo, tiếp nhận tinh hoa thế giới..., không còn là những cụm từ, mấy khẩu hiệu vô hồn bật ra ở đầu môi chót lưỡi, mất hết sức nặng vốn có của chúng.

Và chỉ khi đó thôi, thi sĩ mới tìm thấy mình an cư ở nhà như là nhà mình giữa miền sỏi đá quê hương.