Kỷ niệm 100 năm sinh danh họa Nguyễn Sáng (1923 - 2023)

“Người thật sự sống trong lòng đồng bào...”

Kỷ niệm 100 năm sinh của danh họa Nguyễn Sáng, người có hai tác phẩm sơn mài được công nhận là Bảo vật quốc gia, sáng 29/7, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) diễn ra buổi Art-Talk mang tên “Những kỷ niệm về Họa sĩ Nguyễn Sáng”.
Họa sĩ Đặng Thị Khuê (thứ hai, từ trái sang) kể lại chuyện 39 năm trước, bà mặc chiếc áo dài theo đề nghị của họa sĩ Nguyễn Sáng.
Họa sĩ Đặng Thị Khuê (thứ hai, từ trái sang) kể lại chuyện 39 năm trước, bà mặc chiếc áo dài theo đề nghị của họa sĩ Nguyễn Sáng.

Rưng rưng nhớ mãi không quên…

Sự kiện do Bảo tàng phối hợp Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức, có “nhân chứng sống” tiêu biểu là Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Lương Xuân Đoàn và nguyên Ủy viên ban thư ký Hội từ những năm 1980 Đặng Thị Khuê.

Hai tác phẩm của danh họa Nguyễn Sáng (1923-1988) được công nhận là Bảo vật quốc gia là “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” (hoàn thành sáng tác 1963, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) và “Thành đồng Tổ quốc” (1978, trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh). Cùng với Nguyễn Gia Trí (1908-1993), ông là một trong hai họa sĩ Việt Nam cho đến nay có hai tác phẩm được công nhận là Bảo vật quốc gia (tranh của Nguyễn Gia Trí là bức “Vườn xuân Trung- Nam - Bắc” và bức “Bình phong ”). Điều thú vị khác nữa là cả bốn tranh của hai tác giả - Nguyễn Gia Trí, một người bắc nhưng thành công và nổi tiếng ở miền nam, và Nguyễn Sáng, một người Nam Bộ nhưng sống và thành công nghệ thuật ở miền bắc - đều là tranh sơn mài.

Hai họa sĩ Lương Xuân Đoàn và Đặng Thị Khuê từng vất vả tổ chức triển lãm cá nhân duy nhất cho họa sĩ Nguyễn Sáng năm 1984. Cho đến nay đã gần 40 năm nhưng vẫn nhớ như in và kể lại nhiều chuyện trực cảm xúc động về Nguyễn Sáng và giới mỹ thuật từ một thời khó khăn đó như… mới hôm qua, để lại những di sản văn hóa quốc gia cho các thế hệ sau.

Một câu chuyện “ngoài lề” nhưng rất đáng để nhớ về một thời đã qua của bà Đặng Thị Khuê là danh họa Nguyễn Sáng đã đề nghị bà… mặc áo dài và cầm tay “cô em thân thương” để khai mạc triển lãm chỉ với nguyên một lời nói trước công chúng rằng: “Tôi chẳng có gì đâu ngoài tấm lòng và đôi bàn tay trắng”. Bà Khuê cho biết rằng: “Anh Nguyễn Sáng đề nghị tôi mặc áo dài để nhớ lại hình ảnh về vợ anh - bà Nguyễn Thị Thủy (người đã mất trước đó, nhưng là người đã đỡ đần họa sĩ rất nhiều để hoàn thành bức tranh “Thành đồng Tổ quốc” năm 1978). Nhưng mặc áo dài vào năm 1984 để dự và tổ chức triển lãm trong thời kỳ cả nước khó khăn, vì chiến tranh biên giới, vì sản xuất, lao động… còn đang ở thời kỳ tiền đổi mới thì “có mà điên”. Nhưng với giới trí thức Hà Nội thời kỳ đó, thì “đây là một ngày hội hiếm có” bởi hơn 100 tác phẩm lưu lạc tản mát của Nguyễn Sáng, được huy động từ bảy đơn vị bảo tàng, hơn 30 bộ sưu tập tư nhân khác đều là những tác phẩm hiển hiện cho phong cách tân tiến về văn hóa mỹ thuật của một thời đại mới. Bà Khuê nhấn mạnh: “Với những tác phẩm đó, ông ấy thực sự sống trong lòng đồng bào của mình…”.

Hy vọng mỹ thuật đương đại sẽ có những bước tiến mới

Tuy họa sĩ Lương Xuân Đoàn dành rất nhiều thời gian để bà Khuê kể nhiều chuyện chung quanh tài năng và cách sống thực rất “anh hùng Nam Bộ” trong đời của danh họa Nguyễn Sáng, nhưng ông nhiều lần dù đứng lên vẫn lặng đi, giọt nước mắt thầm rơi trong lòng khi kể lại một số câu chuyện mà bà Khuê nhắc. Như việc chính ông là người nghe được câu nói cuối cùng của cụ Nguyễn Sáng trước khi vuốt mắt, là khi ông bày tỏ ý muốn của ông và Hội Mỹ thuật muốn đưa cụ ra lại Hà Nội (để chơi và chữa bệnh) thì cụ nói được vài câu và lời cuối cùng là: “Nghèo quá về làm sao được”. Hay việc làm sao mà trong những năm 1984 - 1985, cả đất nước đang cực kỳ khó khăn, nhưng Hội Mỹ thuật Việt Nam với sự nỗ lực chính của ba họa sĩ là Nguyễn Quân, Lương Xuân Đoàn và Đặng Thị Khuê mới tổ chức được triển lãm cá nhân lần đầu tiên cho ba trong “bộ tứ trụ” danh họa nổi tiếng là: “Sáng, Nghiêm, Liên, Phái” - tức là các họa sĩ Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái.

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn có một lời tổng kết rất thấm thía, như đại diện cho tâm tư của một thế hệ từng làm những nhiệm vụ như những mái chèo, dây, neo… để đỡ và hỗ trợ những “con thuyền lớn” của mỹ thuật hiện đại của đất nước tiến lên, để lại những “bảo vật quốc gia” thật sự của một thời đói khó bên cạnh việc toàn dân bảo vệ và thống nhất đất nước. Ông nói: “Hy vọng sẽ có những bước tiến mới của mỹ thuật đương đại. Khi nghe chúng tôi kể lại trực tiếp về quá khứ oai hùng nhưng vất vả như vậy”.