1. Xe len lỏi sâu trong vườn cây, sân nhà bởi con đường ven sông gần như đã biến mất. Nằm chắn ngang ngã ba sông Tiền, trong mùa lũ sớm, nước chuyển mạnh, xoáy xiết dữ dội nên bờ phía đông cù lao Tây thường bị bồi mạnh, sụp mau. Phó Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Thanh Bình Phan Văn Lớn vừa chỉ vừa nói: “Căn nhà gạch cheo leo bên miệng thủy thần toang hoác đó là nhà tình nghĩa vừa mới được bàn giao, chưa ấm hơi người... Năm rồi cù lao Tây, nhất là xã Tân Bình đất lở kinh hoàng. Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải về tận đây khảo sát”. Đổi lại ruộng đồng màu mỡ do hưởng trọn phù sa. Toàn huyện có hơn 1.500 ha trồng ớt hai vụ (chiếm hơn 85% sản lượng ớt cả tỉnh) thì hơn hai phần ba diện tích nằm ở cù lao này. Những ruộng ớt vào vụ đỏ rực nối nhau xen rẫy bắp, màu nhưng loe hoe, vắng bóng người thu hoạch? “Năm nay ớt thua rồi”, vừa ngồi xuống ghế, Phó Bí thư Đảng ủy xã Tân Hòa Đinh Văn Nghiêm đã buông lời chắc nịch.
Ở xã Tân Huề, sau Tết Nguyên đán, thấy giá ớt lên đến 50.000-55.000đ/kg (tươi) một nông dân đã phá hai công lúa giai đoạn đẻ nhánh để lên liếp trồng ớt. Sau hai tháng ròng rã chăm sóc, bước vào thu hoạch thì giá ớt lao dốc thê thảm, chỉ bằng một phần tư so năm ngoái. Trong khi đó, theo tính toán của dân trong nghề đầu tư cho một công ớt hiện nay đã lên tới 20 - 22 triệu đồng như mướn đất (hầu hết) mất 4 triệu, lên liếp 1,5 triệu, trồng 1,5 triệu, phân bón và thuốc khoảng 10 triệu rồi công chăm sóc, công thu hoạch... Giá ớt rớt liên tục, từng ngày làm “nóng” khắp Thanh Bình. Giá xuống đến nỗi khi thu hoạch chủ ruộng mướn bẻ rồi chia hai cũng ít người hào hứng. Dân cù lao muốn bán còn phải “tự hạ giá” thêm từ 3.000 đến 5.000đ/kg (phí vận chuyển)...
Lê Thị Nương, chủ vựa “Ớt Nương” thuộc Thị trấn Thanh Bình, người tự nhận “cắt máu ra toàn ớt” với hơn mười năm trong nghề dáng mập mạp, tròn lẳn giọng nói sang sảng: “Khoảng 15.000đ/kg ớt cuống (ớt tươi) mới phá huề nhưng hiện giờ ớt cuống tại vựa cũng chỉ còn 9.000 - 10.000đ/kg, ớt khô 59.000đ/kg (năm ngoái ớt cuống xấu nhất là 12.000đ và ớt khô thấp nhất 73.000đ). Nông dân thắt ruột mà thương lái, đại lý cũng rớt nước mắt luôn. Mới hơn tuần trước chỉ một xe tôi đã lỗ hơn 200 triệu đồng. Năm nay đầu tư tăng gấp ba lần nhưng hàng luôn bị dội...”, Trong nhà hàng trăm bao ớt chất chồng đợi bạn hàng; ngoài sân công nhân vẫn mải miết phân loại. Chỉ riêng ba tháng đầu năm nay “Ớt Nương” đã đánh tới 456 tấn ớt khô, 1.600 tấn ớt tươi, chưa kể ớt đông lạnh (trung bình 10 tấn/ngày) cho Hàn Quốc. Bên kia đường, người ta bắt đầu lật những tấm che, trải ớt ra đón những tia nắng đầu ngày. Đất chợt đổi sắc, đỏ rực, chạy dài như tấm thảm dọc lộ, xốn xang cả vùng quê.
Thua sao ăn nói vẫn rổn rảng, khí thế vậy? “Đạp gai chẳng nhẽ bỏ luôn, làm ăn lâu dài lúc thất lúc thu chớ”, bà Nương phân tích. Một năm thắt ruột vì ớt. “Mà lỗ một năm ba năm sau khó gượng đó”, ông chồng của chủ vựa Nương lầm bầm thở dài.
2. Mới năm ngoái, nhiều người dân Thanh Bình lên đời vì trồng ớt (có thể thu lãi từ 18-20 triệu/công, vụ nghịch cao hơn gấp đôi). Khi vào thu hoạch rộ, bà con không cần chở sản phẩm đến các vựa mà các thương lái đã tranh nhau đến tận rẫy để gom hàng. Các xã cù lao Tân Phong, Tân Huề, Tân Hòa còn có mô hình liên kết “Sản xuất ớt an toàn” cả trăm hộ để cung cấp giống, phân bón, chuyển giao kỹ thuật và các Tổ hợp tác thu mua, sơ chế ớt xuất khẩu...
Một lão nông kể rằng cây ớt hấp dẫn không chỉ do năng suất cao, có giá mà công sức bỏ ra không cực như trồng lúa. Chỉ sau ba tháng trồng là bắt đầu thu hoạch. Ớt cho trái từng đợt, mỗi đợt kéo dài từ một tháng rưỡi đến hai tháng và ba, bốn ngày là hái một lần. Thu hoạch xong đợt đầu, người trồng vun hàng bón phân khoảng một tháng rưỡi là thu hoạch đợt hai. Nếu trồng “siêu” ớt cho trái liên tục đến bốn, năm tháng. Bà già trẻ nít ngồi tại nhà cũng kiếm được tiền nhẹ nhàng khi bẻ trái, lặt cuống, phân loại...
Khi vào vụ, mầu đỏ của ớt phủ khắp cù lao Tây, tràn vô đất liền, nhuộm đỏ cả thị trấn và các xã dọc quốc lộ 60, đường đi Tam Nông, Hồng Ngự... Người ít thì 1-2 công người nhiều 5-10 công; không đất thì sang hoặc mướn. Năm 2011, diện tích trồng ớt hai vụ của huyện Thanh Bình hơn 960 ha, tăng gần gấp đôi so với năm trước lại được mùa trúng giá. Trước việc trồng ớt tự phát với diện tích lớn, UBND huyện Thanh Bình chỉ đạo tìm đầu mối thu mua, từng bước gắn kết họ với HTX để tìm hướng đi lâu dài, tránh tình trạng mất giá, thua lỗ... Tuy nhiên, năm 2012, khí thế vẫn ngùn ngụt, nhiều gia đình đã xuống giống vụ đông xuân cũng phá lúa lấy đất trồng ớt đẩy diện tích lên hơn 1.500 ha, riêng ớt nghịch vụ lên đến 853 ha.
Cung thừa cầu ít, mùa đắng cho cây ớt xộc vô từng nhà. Không cao... đã gắn bó, đã từng cho mùa ngọt và tạo ra danh tiếng. Mỗi năm huyện cho sản lượng ớt từ 24.000 - 25.000 tấn. Mùa đắng không chỉ thiệt hại cho nông dân mà còn phá vỡ quy hoạch, cơ cấu mùa vụ. Việc quay trở lại với lúa sẽ quá tốn kém do trước đó, để trồng ớt, người ta đã đào đắp lên liếp khắp mặt ruộng.
Là vương quốc ớt nhưng toàn huyện Thanh Bình chỉ có một, hai lò sấy; quy trình sản xuất, sơ chế vẫn chủ yếu theo lối thủ công, kho chứa đúng tầm không có. Thanh Bình có 15 vựa, đại lý lớn nhỏ nhưng chỉ 1/3 có năng lực, quy mô đáng kể (thu gom 10 - 20 tấn/ngày bằng tiền mặt). Các sản phẩm giá trị gia tăng (tương ớt, muối ớt...) không đáng kể.
Tư thương nước ngoài sẽ khó “lách luật”, tạo sóng gió cho làng quê Việt nếu cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát. Việc thành lập Ban chỉ đạo hoặc hiệp hội (như cá tra) cũng giúp nông dân không phải loay hoay, mò mẫm tự bơi và cả tự phát trong thị trường khốc liệt; đầu tư xây dựng cơ sở, nhà máy chế biến sau thu hoạch... “Quan trọng là phải ký được hợp đồng trực tiếp, dài hạn với đối tác”, một cán bộ phòng nông nghiệp huyện Thanh Bình thận trọng khẳng định. Huyện đã đăng ký xây dựng thương hiệu “Ớt Thanh Bình” nhằm quảng bá sản phẩm cũng như giúp nông dân dễ dàng tiếp cận các công ty xuất khẩu ớt, rút ngắn khâu trung gian, hạn chế tình trạng bị tư thương ép giá. Tìm đầu mối trung gian tại Cam-pu-chia để đưa ớt thâm nhập Thái-lan; phát triển sản xuất, bao tiêu ớt mùa nghịch ở những vùng có ô bao chắc chắn...
Sẽ trồng cây gì, nuôi con gì và ổn định đầu ra cho nông thủy sản? Câu hỏi đó sao vẫn đọng hoài, đau đáu nỗi khát khao trong lòng những người nông dân một nắng hai sương dọc sông Tiền sông Hậu biết bao năm rồi.