Ở phố Hàng Ngang, số nhà 47, có một cửa hàng vẽ truyền thần nhỏ. Chủ của cửa hàng, cụ ông Nguyễn Bảo Nguyên, đã ở tuổi ngoài 80, người gắn bó với nghề vẽ truyền thần gần 60 năm. Ông cụ tóc bạc, lưng còng, áo quần sơ vin tươm tất, hằng ngày vẫn đi bộ từ nhà mình ở Ô Quan Chưởng tới cửa hàng ngồi vẽ.
Ông Nguyên bắt đầu nghề truyền thần từ tuổi 24, khi chuẩn bị tốt nghiệp khoa Lý, Trường đại học Tổng hợp. Đó là nghề hay nghiệp, ranh giới cũng chẳng rõ ràng. Nếu như không phải vì bệnh đau dạ dày mà bỏ dở kỳ thi cuối cùng thời sinh viên, không phải vì khả năng tự học vẽ truyền thần quá nhanh chỉ trong ba tháng đã tự ra mở cửa hàng, không vì là anh cả trong một gia đình có 10 anh em với 13 miệng ăn chỉ trông chờ vào 55 đồng tiền lương của người cha làm y tế, thì có thể đã có Nguyễn Bảo Nguyên một nhà vật lý hay một nghề nghiệp khác. Nhưng Hà Nội đã có một Nguyễn Bảo Nguyên truyền thần.
Cửa hàng của ông bày cả tranh mới lẫn cũ, tranh vẽ người Việt lẫn người nước ngoài: tranh vẽ người cha quá cố, tranh vẽ Einstein, Bùi Xuân Phái... lẫn tranh đang vẽ của khách. Nhiều tranh vẽ được lồng khung xếp sát nhau quanh tường vì không đủ chỗ bày biện. Không gian nhỏ của cửa hàng mở ra những không gian khác trên mỗi bức tranh dù chỉ là những khuôn mặt với hai mầu đen trắng, những khuôn mặt mang gương mặt của thời đại và người vẽ.
Đó là thời đại của những chuyển giao, tiếp nối. Nhà khoa học, những vị quan thế kỷ trước, những thiếu nữ Hà Nội xưa của những năm 1930 và người đương thời. Tất cả được cảm nhận, thậm chí hình dung, tưởng tượng qua tâm hồn người nghệ sĩ.
| Chính ông cũng đang nhớ tiếc những bức tranh truyền thần khổ nhỏ vẽ bằng mực tàu kỹ càng mà lớp các cụ cuối cùng cũng đã mất “đến mươi, hai mươi năm nay”. |
Nguyễn Bảo Nguyên không nhận mình là nghệ sĩ, tất nhiên, đó chỉ là một danh xưng. Nhưng ông có tâm hồn của một người nghệ sĩ thực thụ: đủ hoài niệm, đủ sâu lắng, đủ trí tuệ, đủ thức thời. Tranh ông vẽ lướt qua chính tâm hồn mình: một chàng sinh viên Tổng hợp (từng nghe buổi nói chuyện của Tổng thống Ấn Độ R.Prasad với Bác Hồ, từng múa sư tử đón Tổng thống Indonesia Sukarno khi hai ông đến thăm Đại học Tổng hợp năm 1959) và một ông lão đã tận mình trải qua những năm tháng Hà Nội đổi thay. Ông học khoa học và yêu thơ Nguyễn Bính, yêu truyện Thạch Lam, yêu nhạc Văn Cao, yêu tranh phố Phái. Ông thấm chất chân quê, nhẹ nhàng; yêu nét tinh tế của văn chương, yêu nét nhạc mang âm hưởng ca trù, đặc biệt ông yêu Hà Nội. Mặc dù có tiếc khi không theo khoa học đến cùng lúc còn tuổi trẻ, nhưng sau này, ông nhận ra “có thể như vậy lại may” vì “học về khoa học như thế là đủ để mình hiểu những cái khác, còn hiểu sâu nữa thì mình bị lệ vào nó mà sẽ không hiểu những cái huyền bí hơn”.
Cái huyền bí hơn ở đây chính là thế giới tâm linh, là Phật học. Khi soi khoa học vào, “cái nghiệp người ta làm mà đạo Phật nói đến cũng như năng lượng bảo toàn trong Định luật bảo toàn năng lượng, không bao giờ mất đi, vĩnh viễn còn trong vũ trụ”. Hoặc như triết lý sắc sắc, không không nếu soi chiếu vào các sự vật trong vũ trụ thì sự tồn tại của chúng chưa hẳn đã như những gì lâu nay ta đã biết. Không phải tưởng tượng của chúng ta quá cao siêu mà khả năng nhận biết vũ trụ của chúng ta đến đâu mà thôi.
Khoa học - tâm hồn - tâm linh có ảnh hưởng đến tranh truyền thần Nguyễn Bảo Nguyên vẽ? Chính điều ấy ông cũng không nói cho ngọn ngành được. Nhưng việc dám vẽ những chân dung không hề có ảnh như nhà sử học Ngô Sĩ Liên (sử thần thời Lê, sống vào thế kỷ XV), Vũ Tông Phan (danh sĩ thời Nguyễn) thì thật đặc biệt. Điều quan trọng con người để lại, không phải một hình ảnh bằng xương bằng thịt, mà có lẽ chính là điều ta làm cho cuộc đời.
Cho dù là điều nhỏ bé, như cách Nguyễn Bảo Nguyên đã làm là tự học vẽ truyền thần khi những cửa hàng ông ghé từ chối nhận ông vào học; là hứng muội đèn, muội cao-su; là tự chế ra những chiếc bút cho việc vẽ của mình. Ông nói vui những chiếc bút “đều làm từ tre, toàn dụng cụ để ăn” là đôi đũa, cái tăm (tăm, hoặc chân hương cắm vào một đầu chiếc đũa). Lúc cần vẽ nét mềm thì quấn thêm ít bông ở đầu, lúc cần vẽ mảng lớn thì vẽ bằng vải khăn mùi xoa có để bông ở trong. Khi cần xóa hoặc muốn một phần mầu đen trong tranh hơi sáng lên thì dùng tẩy (cắt nhọn đầu gắn ở đầu kia của chiếc đũa) tẩy đi...
Ngày mới cầm bút tập vẽ, ông thấy vẽ cái gì cũng khó cả. Sau một thời gian thì thấy cái mắt, cái miệng, cái cằm khó hơn. Sau cùng ông nhận ra, “cả cái tóc, cái áo, cái nếp nhăn của người ta cũng có cái thần ở trong đó”. Cũng như vẽ người thời xưa và bây giờ đều khó dù vẽ người xưa “hiền thục thì dễ chịu hơn”.
Đời sống vật chất với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi nhiều tư duy cũng như gương mặt con người. Người ta không còn quan niệm tranh truyền thần là tranh để thờ nữa, và “bức tranh mình vẽ bao giờ cũng được treo ở chỗ trang trọng” nhưng như vậy là chưa đủ để nghề vẽ truyền thần tránh khỏi mai một. Hiểu rõ quá trình vận hành của quy luật suy tàn, Nguyễn Bảo Nguyên không khỏi tiếc nuối nghĩ đến tương lai nghề vẽ truyền thần không còn tiếp nối. Chính ông cũng đang nhớ tiếc những bức tranh truyền thần khổ nhỏ vẽ bằng mực tàu kỹ càng mà lớp các cụ cuối cùng cũng đã mất “đến mươi, hai mươi năm nay”, “các cụ ngồi chấm, vuốt cho đầu bút nhọn bằng miệng để vẽ, miệng cụ nào cụ nấy đen sì”.
Nguyễn Bảo Nguyên nói rằng, tranh vẽ bằng muội cao-su bền mầu với thời gian vì chất liệu chỉ gồm nguyên tố cac-bon. Thời gian có thể làm giấy vẽ bị ố vàng hoặc trừ khi người ta đốt ra gio, còn giữ được thì còn vĩnh viễn. Nhưng sự vĩnh viễn này có thể giữ được sự vĩnh viễn kia, khi mà từ Bờ Hồ đi lên qua Hàng Đào - nơi mà hai bên các cửa hàng quần áo phô ra hết cỡ cho khách chọn lựa, nơi mà đủ mọi âm thanh ồn ĩ xối vào tai, thì ở số nhà 47 phố Hàng Ngang ấy - nơi thời gian trôi qua thật chậm, tự nhiên thành khuất nẻo. Người ta có hỏi ông lão vẽ truyền thần đang ở đâu, khi nắng tây buổi chiều gay gắt đã chiếu hẳn vào trong?