Nhiều thách thức trong xây dựng và thực thi chính sách
Hoàn thiện cơ chế, chính sách là một trong bảy nhóm nhiệm vụ và giải pháp chung phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, được đề cập trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, nhiệm vụ đầu tiên trong tổng số năm nhiệm vụ và giải pháp để "hoàn thiện cơ chế, chính sách" là: "Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong thời kỳ mới nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nâng cao hiệu quả việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và các quyền liên quan, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường; các chính sách ưu đãi về vốn, thuế, đất đai, khuyến khích sáng tạo đối với văn nghệ sĩ, các doanh nghiệp khởi nghiệp".
Trên thực tế, khó khăn lớn nhất của việc kinh doanh sản phẩm văn hóa là giải quyết bài toán khoảng cách giữa sự thể nghiệm sáng tạo của cá nhân/nhóm các cá nhân người làm ra sản phẩm và nhu cầu của người sử dụng. Việc lượng hóa nguồn vốn từ trí tuệ, cảm hứng sáng tác, tài năng của người làm ra sản phẩm văn hóa là nhiệm vụ gần như bất khả thi. Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm văn hóa ở Việt Nam đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên việc họ tìm kiếm các chính sách ưu đãi, các nguồn tài trợ từ mô hình quỹ văn hóa nghệ thuật là hoàn toàn dễ hiểu.
Theo ông Đỗ Quang Minh, chuyên viên Vụ Kế hoạch, Tài chính (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), thống kê ban đầu cho thấy có bảy hạng mục hỗ trợ từ chính sách dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm: tiếp cận tín dụng; thuế, kế toán; mặt bằng sản xuất; công nghệ; nguồn nhân lực; mở rộng thị trường; thông tin và tư vấn pháp lý. Bên cạnh đó là sáu hạng mục khuyến khích xã hội hóa thể hiện trong các hệ thống văn bản chính sách liên quan. Tuy nhiên, để tất cả 13 hạng mục trên được áp dụng có hiệu quả, cả phía tham mưu hoạch định chính sách và bên thực thi chính sách đều đang gặp phải ba thách thức lớn: Thứ nhất, thiếu các nghiên cứu khoa học về chính sách thuế trong lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam, để làm căn cứ đề xuất chính sách; thứ hai, các ngành công nghiệp văn hóa có tính liên kết, liên ngành cao; các lĩnh vực trong văn hóa do nhiều bộ, ngành quản lý theo phân công dẫn đến chồng chéo trong quản lý và hướng dẫn thực hiện chính sách; đặc biệt, thứ ba là sự tương tác, trao đổi giữa Nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, người thực hành sáng tạo còn hạn chế, nhất là trong công tác xây dựng chính sách.
Công cụ thuế giữ vai trò cốt yếu
Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng mô hình miễn thuế cho khoản đầu tư, tài trợ văn hóa nghệ thuật của các tập đoàn, doanh nghiệp; khoản này là các giao dịch tài chính trong mua tác phẩm nghệ thuật, tài trợ cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung. Quy định 1% cho nghệ thuật cũng đã được nhiều nước áp dụng đối với nguồn tài chính đầu tư cho các công trình tòa nhà kinh doanh như khu trung tâm thương mại, văn phòng…
Đi trên các con phố ở Hàn Quốc, bạn không bất ngờ khi thấy trước mỗi tòa nhà lớn đều có các công trình nghệ thuật ngoài trời. Nhiều bảo tàng, bộ sưu tập, giải thưởng nghệ thuật lớn mang tầm vóc toàn cầu thuộc sở hữu của những nhà tài phiệt, các tập đoàn kinh tế. Bên cạnh tình cảm, sự yêu thích của cá nhân nhà đầu tư, phải nói rằng, hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư, tài trợ cho văn hóa ở nhiều nước là rất hữu hiệu, với các quy định cụ thể. Thông qua đó, người có điều kiện tài chính sẽ lựa chọn, hoặc đầu tư cho văn hóa nghệ thuật đóng góp vào tương lai văn hóa chung của quốc gia, thế giới, đồng thời lưu danh tiếng cá nhân hay chịu các khoản thuế gia tăng theo khối lượng tài sản. Ngay như ở Thái Lan, chính sách cho phép thế chấp bộ sưu tập mỹ thuật như một bảo đảm tài chính tại các giao dịch vay nợ ngân hàng cũng là một thí dụ chứng minh rõ nét việc lượng hóa giá trị của sản phẩm/tác phẩm văn hóa nghệ thuật thể hiện trong các công cụ chính sách. Cách làm này góp phần khuyến khích và thúc đẩy người/tổ chức sở hữu làm minh bạch nguồn tài sản nghệ thuật của mình để biến nó trở thành một điểm tựa tài chính hữu hiệu khi muốn gia tăng vốn kinh doanh.
Trở lại với Việt Nam, theo thông tin từ Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang thực hiện nghiên cứu để đề xuất những cơ chế huy động đa dạng nguồn lực cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, cụ thể là ưu đãi thuế và đặc biệt là áp dụng thí điểm mô hình hợp tác công-tư trong lĩnh vực các ngành văn hóa và sáng tạo ở một số địa phương như Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh... Hy vọng rằng, những đề xuất điều chỉnh chính sách lần này sẽ tạo điểm tựa thúc đẩy hoạt động đầu tư hướng đến lĩnh vực công nghiệp văn hóa và sáng tạo.