Danh hiệu di sản:

Không dễ giấc mơ đổi đời

Ngày 23 tháng 6, trong phiên họp tại thủ đô Doha (Quatar) UNESCO đã chính thức công nhận quần thể danh thắng tràng an (ninh bình) là di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên của thế giới. Có nghĩa khu danh thắng này đã trở thành di sản cấp quốc tế thứ tám của chúng ta - chưa kể tới một loạt danh hiệu cho các loại hình Di sản Tư liệu hoặc Di sản Văn hóa Phi vật thể...

Quần thể danh thắng Tràng An - Ninh Bình.
Quần thể danh thắng Tràng An - Ninh Bình.

Từ bài toán kinh tế

Đây cũng là thời điểm tròn 20 năm kể từ khi chúng ta nhận danh hiệu Di sản thế giới (DSTG) đầu tiên qua trường hợp vịnh Hạ Long (1994). Và câu hỏi được đặt ra: trong quãng thời gian ấy, bảy danh hiệu cấp Thế giới về Di sản Văn hóa và Di sản Thiên nhiên ấy đã có tác động thế nào tới chính những “chủ nhân” của nó?

Ai cũng hiểu, xét đơn thuần ở góc độ kinh tế, việc đem lại nguồn thu trực tiếp cho địa phương là thế mạnh của những di sản vật thể, so với hai loại hình di sản còn lại (Phi vật thể và Tư liệu). Nhưng, bản thân bảy Di sản Văn hóa và Di sản Thiên nhiên của Việt Nam cũng có sự khác biệt khá rõ ràng ở mức doanh thu nhận về.

Theo thống kê tại hội thảo có tên “Di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam” vào cuối tháng 5 vừa qua, cố đô Huế và vịnh Hạ Long là hai di sản có mức doanh thu cao nhất, với con số trong năm gần nhất là 250 tỷ đồng và 450 tỷ đồng. Tụt lại một khoảng cách khá xa là trường hợp của phố cổ Hội An (65 tỷ đồng), Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (gần 24 tỷ đồng), thánh địa Mỹ Sơn (hơn 21 tỷ đồng)... Riêng hai trường hợp di sản khác là Thành Nhà Hồ và Hoàng thành Thăng Long vẫn đang ở giai đoạn kiện toàn đồng bộ nên chưa có kế hoạch khai thác thật sự hiệu quả.

Dù bỏ qua những khác biệt đặc thù của từng di sản, một nhận xét khá rõ ràng vẫn được rút ra: muốn thu hút khách du lịch, bản thân mỗi di sản cũng phải có sự đầu tư xứng đáng thì mới có thể trở thành một nhân tố tích cực của ngành “công nghiệp không khói” cho địa phương sở hữu nó. Khoản kinh phí 90 tỷ đồng cho dự án khảo cổ Thành nhà Hồ năm 2013 - bước đi đầu tiên để tiến hành dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của mỗi di sản - là ví dụ điển hình. Ở trường hợp tương tự, chi phí cho những đợt khảo cổ liên tiếp tại cụm Hoàng thành Thăng Long - Thành cổ Hà Nội cùng kế hoạch thiết kế xây dựng một công viên văn hóa lịch sử đặc thù tại đây chắc chắn cũng khiến bài toán “cân bằng thu chi” không thể đặt ra ngay trong những năm đầu tiên.

Thậm chí, nếu tính theo độ dài thời gian, phố cổ Hội An đã mất gần chục năm đầu tư cả về tôn tạo kiến trúc lẫn gìn giữ văn hóa sống để tạo ra sức hút như hiện tại. Như chia sẻ của GS Hoàng Đạo Kính (Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam), trong thập niên 90, bản thân di sản này cũng từng rơi vào cảnh ngộ của... làng cổ Đường Lâm trong năm 2013 - khi những người dân bản địa đều có nhu cầu phá bỏ những ngôi nhà cổ để cơi nới, mở rộng không gian sống. Và, chỉ có quyết tâm của lãnh đạo địa phương khi đó cùng các biện pháp thuyết phục hợp lý, hợp tình mới giúp cộng đồng người dân ở vùng đất nghèo Quảng Nam kiên nhẫn chờ thu về thành quả của danh hiệu DSTG như hiện nay.

“Mỗi di sản tại Việt Nam đều đòi hỏi một cách tiếp cận riêng để phát huy giá trị của mình chứ không thể rập khuôn nhau. Thậm chí, khi có khách du lịch rồi, việc nghiên cứu tổ chức khai thác di sản cho hợp lý cũng là một bài toán khó” - PGS Đặng Văn Bài (Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia) cho biết: “Tôi tin chắc, nếu có những giải pháp hợp lý, vịnh Hạ Long, cố đô Huế hay cả phố cổ Hội An đều có thể đạt được mức doanh thu cao hơn hiện tại khá nhiều”.

Đoàn Việt Nam do ông Trần Hữu Bình (giữa) - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình làm Trưởng đoàn đón tin vui UNESCO công nhận quần thể danh thắng Tràng An là di sản thế giới.

Tới lựa chọn được - mất

Ít ai biết, bên cạnh mục tiêu danh hiệu DSTG này, ngành di sản Việt Nam còn đang đặt ra một cái đích thứ hai, hy vọng được quyết định trong phiên họp của UNESCO tại Doha. Đó là việc tổ chức uy tín này sẽ rút tên vịnh Hạ Long ra khỏi danh sách khuyến nghị về bảo tồn di sản. Trước đó, năm 2011, vịnh Hạ Long đã được UNESCO “điểm mặt” trong danh sách trên, với lý do quan ngại về các hoạt động lấn biển, khai thác than, đánh bắt thủy sản... diễn ra quanh di sản này.

Đây không phải là lần đầu tiên, các di sản Việt Nam rơi vào trường hợp này. Năm 2009, cũng vì những lo lắng liên quan tới khả năng bảo tồn tính toàn vẹn của di sản, cố đô Huế đã được UNESCO đưa vào danh sách trên - để rồi được rút ra vào năm 2013, sau hàng loạt nỗ lực từ địa phương. Nhưng, theo các chuyên gia, việc bảo đảm tính an toàn cho vịnh Hạ Long gặp khó khăn hơn nhiều so với trường hợp của Huế, khi vùng di sản của Quảng Ninh lại là nơi diễn ra hàng loạt hoạt động phức tạp về công nghiệp, du lịch, ngư nghiệp và cảng biển.

Câu chuyện của vịnh Hạ Long cũng giống như trường hợp của danh thắng Tràng An. Ban đầu, diện tích gần 10.000 ha được quy hoạch để lập hồ sơ của di sản này “vướng” vào vị trí của hai nhà máy xi-măng (được xây dựng từ thời điểm trước đó). Kết quả, hồ sơ được chỉnh sửa để “cắt” bớt phần vùng đệm - nơi hai nhà máy này tồn tại. “Thậm chí, dù đã nhận được danh hiệu lần này, bài toán... xi-măng cũng là điều mà ngành quản lý tại Ninh Bình sớm muộn phải tính đến trước UNESCO” - một chuyên gia về bảo tồn nhận xét. “Bởi, xi-măng là ngành công nghiệp chủ lực của Ninh Bình từ hàng chục năm nay, nhưng đó cũng là kẻ thù số một về ô nhiễm môi trường và phá hoại cảnh quan”.

Hai trường hợp trên là minh chứng cụ thể cho tình huống mà ngành quản lý vẫn gọi vui là “ông công nghiệp có khói... đấm ông công nghiệp không khói”. Ai cũng hiểu, làm công nghiệp thì hiệu quả nhìn thấy trước mắt bằng doanh thu, còn làm du lịch thì hiệu quả lại tiềm ẩn dưới nhiều giá trị khác, thậm chí nằm ở tương lai, nhưng có tính bền vững và lâu dài. Dù vậy, ở khá nhiều trường hợp, hai lựa chọn ấy lại không thể cùng triển khai song song theo kiểu “lấy ngắn nuôi dài” mà bắt buộc phải có thứ tự ưu tiên, thậm chí là lựa chọn lấy một.

Cần nhớ, theo lý thuyết, khi nhận danh hiệu từ UNESCO, các quốc gia đã... xung phong tự gánh lấy một trách nhiệm quốc tế nặng nề: tự nguyện đầu tư tiền của và trí tuệ để gìn giữ và bảo vệ các di tích tại quốc gia mình, không chỉ cho bản thân, mà cho toàn nhân loại. Ở đó, tiêu chí sống còn để bảo vệ danh hiệu ấy là sự trung thực và khoa học khi bảo tồn các giá trị nguyên trạng của di sản. Có nghĩa, nếu sự tự hào về một danh hiệu cấp thế giới là điều không cần bàn cãi thì ngược lại, giấc mơ “đổi đời” nhờ phát triển du lịch lại không dễ đạt tới - nếu nơi sở hữu di sản không có sự đầu tư kiên nhẫn, khoa học, và đặc biệt là việc đặt yêu cầu bảo tồn di sản lên hàng đầu.

Nếu sự tự hào về một danh hiệu cấp thế giới là điều không cần bàn cãi thì ngược lại, giấc mơ “đổi đời” nhờ phát triển du lịch lại không dễ đạt tới - nếu nơi sở hữu di sản không có sự đầu tư kiên nhẫn, khoa học, và đặc biệt là việc đặt yêu cầu bảo tồn di sản lên hàng đầu.

UNESCO hoàn toàn có thể thu hồi danh hiệu DSTG

Theo quy định của UNESCO, trong trường hợp không được bảo vệ hợp lý, một số di sản có thể được xem xét để thu hồi danh hiệu DSTG. Trên thực tế, điều này đã từng xảy ra hai lần. Năm 2007, khu bảo tồn linh dương sừng thẳng Ả Rập (Oman) đã bị thu hồi danh hiệu này, khi chính quyền thu hẹp một phần diện tích bảo tồn để mở các điểm khảo sát dầu mỏ. Năm 2009, đến lượt thung lũng Dresen (Đức) bị thu hồi danh hiệu, sau khi chính quyền tại đây xây dựng một cây cầu bắc ngang qua thung lũng và phá hỏng cảnh quan.

Có thể bạn quan tâm