Từ những ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp được đầu tư đồng bộ, giáo dục vùng biên đang được đặt trong một tầm nhìn dài hơn: Không chỉ tạo điều kiện để học sinh đến trường, mà còn trao cho các em tri thức, kỹ năng và cơ hội phát triển. Bởi những học sinh hôm nay sẽ là nguồn nhân lực, những người có thể trở về dựng xây chính quê hương mình trong tương lai.
Giữ người thầy ở lại
Buổi đầu năm học mới tại Trường phổ thông nội trú (PTNT) TH và THCS Bình Liêu, cô Hoàng Thị Hà, giáo viên dạy Văn ngồi bên bàn làm việc, rà lại giáo án cho những tiết học sắp tới. Ngoài cửa lớp, tiếng học sinh gọi nhau í ới. Với cô, những ngày này luôn có một nhịp quen thuộc: Vừa chuẩn bị bài giảng, vừa nghĩ đến từng nhóm học sinh, em nào cần được kèm thêm, em nào có thể bồi dưỡng để đi xa hơn.
Năm học vừa qua, trong lần đầu tham gia ôn thi tuyển sinh vào lớp 10, đội tuyển do cô Hà phụ trách có 100% học sinh thi đỗ vào các trường nội trú chất lượng cao của tỉnh và nội trú Trung ương. Trước đó, từ năm 2015, cô đã được giao bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh và nhiều học sinh đạt giải cao. Những kết quả ấy góp phần đưa chất lượng học tập của Trường PTNT TH và THCS Bình Liêu nhiều năm nằm trong nhóm dẫn đầu các trường nội trú của tỉnh.
Ít ai biết, cô Hà từng là học sinh của chính mái trường này, rồi lại trở về đứng trên bục giảng.
Ngày ấy, cô gái người Tày cũng như những học sinh đang ngồi trước mặt mình hôm nay, rời gia đình để đến trường nội trú. Ký ức của cô là một ngôi trường còn nhiều thiếu thốn: Phòng học, khu ở, nhà ăn đều đơn sơ; học sinh phải trồng rau, nuôi lợn để cải thiện bữa ăn, thay nhau lấy củi phục vụ bếp.
Từ mái trường ấy, cô Hà tiếp tục học tại Trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh ở Hạ Long, rồi theo học ngành sư phạm. Khi có cơ hội ở lại thành phố, cô lại chọn trở về Bình Liêu.
Hơn một thập niên đứng lớp, cô Hà chứng kiến ngôi trường thay đổi, cũng chứng kiến những đứa trẻ vùng biên có thêm nhiều điều kiện để đi xa hơn thế hệ của mình. Với cô, đó là niềm vui không chỉ của một người giáo viên, mà còn của một người từng là học sinh nơi đây.
Câu chuyện của cô Hà gợi ra một vấn đề rộng hơn ở các trường vùng biên: Muốn có những thế hệ học sinh đủ sức đi xa, trước hết phải có đủ những người thầy ở lại với các em.
Bài toán này càng trở nên rõ hơn khi Chương trình giáo dục phổ thông 2018 không còn chỉ yêu cầu truyền đạt kiến thức, mà đòi hỏi giáo viên tổ chức cho học sinh học qua trải nghiệm, thực hành, phát triển năng lực số, ngoại ngữ, tư duy khoa học và khả năng giải quyết vấn đề. Ở những trường vùng biên, yêu cầu ấy còn đi cùng những đặc thù về ngôn ngữ, văn hóa, hoàn cảnh sống và điều kiện tiếp cận công nghệ của học sinh. Vì vậy, giáo viên không chỉ cần đủ về số lượng mà còn phải được bồi dưỡng để có thể đáp ứng một cách linh hoạt những yêu cầu mới.
Thực tế, khoảng trống về đội ngũ vẫn là một trở ngại. Lạng Sơn hiện thiếu hơn 1.400 giáo viên. Khi yêu cầu học hai buổi/ngày, dạy học theo chương trình mới và tăng cường năng lực số ngày càng cao, sự thiếu hụt ấy càng tạo thêm áp lực cho các nhà trường.
Tại Quảng Ninh, dù chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên, toàn thành phố vẫn thiếu khoảng 2.000 giáo viên; nhiều môn học và địa bàn khó tuyển người. Năm học 2026-2027, thành phố tiếp tục điều động, luân chuyển hàng trăm giáo viên để bổ sung cho những nơi còn thiếu. Bên cạnh đó, ngành giáo dục cũng đặt yêu cầu đội ngũ phải có năng lực sử dụng công nghệ, ngoại ngữ, tổ chức các hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp phù hợp với đặc thù vùng biên. Bởi một phòng STEM (không gian học tập chuyên biệt tích hợp bốn lĩnh vực: Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học), một phòng máy hay một chương trình mới chỉ thật sự tạo ra giá trị khi có giáo viên đủ khả năng biến những điều kiện ấy thành giờ học và năng lực của học sinh.
Với TP Huế, khi các trường nội trú liên cấp A Lưới lần đầu đi vào vận hành, yêu cầu đối với đội ngũ còn rộng hơn việc đứng lớp. Giáo viên, cán bộ và nhân viên phải cùng tham gia quản lý, chăm sóc, tổ chức ăn ở, sinh hoạt, bảo đảm an toàn và các hoạt động giáo dục cho học sinh nội trú. Ngành giáo dục vì thế phải chuẩn bị con người song song với chuẩn bị cơ sở vật chất.
Chuẩn bị nguồn lực cho vùng biên
Bình Liêu đang thay đổi cùng với sự phát triển của kinh tế cửa khẩu, thương mại, dịch vụ và du lịch. Những ngành nghề ấy đòi hỏi một lớp lao động khác trước: Không chỉ biết làm việc, mà cần có kỹ năng nghề, ngoại ngữ, năng lực số và khả năng thích ứng. Các nhà trường vì thế không muốn câu chuyện hướng nghiệp chỉ bắt đầu ở những năm cuối cấp. Học sinh cần được tìm hiểu về những ngành nghề gắn với địa phương, được giáo dục ý thức trách nhiệm với cộng đồng và hiểu hơn về những cơ hội đang mở ra ngay trên quê hương mình.
Theo ông Đinh Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Quảng Ninh, học sinh hôm nay chính là nguồn lao động, cán bộ cơ sở, đội ngũ trí thức và những công dân trực tiếp xây dựng quê hương trong tương lai. Vì vậy, cùng với tri thức, các em cần được trang bị kỹ năng, năng lực số, ngoại ngữ, ý thức công dân và khát vọng vươn lên.
Đó cũng là lý do ngành giáo dục Quảng Ninh cho rằng, hướng nghiệp, phân luồng cần gắn với hệ thống giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp và nhu cầu nhân lực của thành phố. Thành công của những ngôi trường mới không chỉ nằm ở số phòng học hay mức đầu tư, mà phải được nhìn thấy ở những học sinh trưởng thành, có nghề nghiệp, có tri thức và có người quay trở lại xây dựng quê hương.
Ở Lạng Sơn, bên cạnh giáo dục phổ thông, ngành giáo dục xác định việc phát triển năng lực số, ngoại ngữ và kỹ năng cho học sinh ngày càng quan trọng. 100% học sinh tiểu học và 90% học sinh THCS được học hai buổi/ngày; Tin học được đưa vào giảng dạy bắt buộc từ lớp 3, học sinh tham gia “Bình dân học vụ số”, từng bước hình thành năng lực số và đưa kiến thức công nghệ về gia đình, cộng đồng.
Ông Hoàng Quốc Tuấn, Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Lạng Sơn cho rằng, cùng với việc bảo đảm những điều kiện cơ bản để học sinh đến trường, tỉnh phải tiếp tục bồi dưỡng đội ngũ, đổi mới phương pháp dạy học và tăng cường năng lực số cho học sinh. Điều này có ý nghĩa đặc biệt với một tỉnh có hoạt động thương mại biên giới, dịch vụ và du lịch ngày càng phát triển.
Với Tuyên Quang, yêu cầu ấy đang hiện rõ cùng định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Điều đó đặt ra nhu cầu chuẩn bị sớm nguồn nhân lực có năng lực công nghệ, không chỉ cho khu vực đô thị mà cả những địa bàn miền núi, biên giới. Một giờ học STEM hôm nay vì thế có thể là điểm khởi đầu cho những năng lực mà nền kinh tế địa phương cần trong tương lai.
Ở Quảng Ninh, bài toán được nhìn xa hơn. Ông Đinh Ngọc Sơn cho biết, tỉnh nhìn những ngôi trường vùng biên không chỉ cho năm học trước mắt mà cho 10 năm, 20 năm sau. Học sinh hôm nay sẽ là nguồn lao động, cán bộ cơ sở, đội ngũ trí thức và những người trực tiếp xây dựng quê hương vùng biên trong tương lai. Vì vậy, bên cạnh tri thức, các em cần được trang bị kỹ năng, năng lực số, ngoại ngữ và khả năng thích ứng.
Từ nhu cầu ấy, hướng nghiệp phải được đặt sớm hơn trong nhà trường. Quảng Ninh xác định học sinh vùng biên trong tương lai có thể tham gia các lĩnh vực thương mại, logistics, dịch vụ cửa khẩu, du lịch, công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, kinh tế số; hoặc tiếp tục học để trở thành giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, cán bộ phục vụ quê hương.
Riêng tại Trường PTNT TH và THCS Bình Liêu, theo cô Hiệu trưởng Ngô Thị Thanh Ninh, nhà trường đã bắt đầu hình dung khá cụ thể những con đường ấy: Hướng dẫn viên du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm đường biên; lao động kỹ thuật và dịch vụ logistics tại Cửa khẩu Hoành Mô; kỹ sư, công nhân lành nghề trong chế biến miến dong. Nhu cầu học tiếng Trung của học sinh và phụ huynh cũng ngày càng rõ khi địa phương nằm sát biên giới Trung Quốc.
Tại Huế, câu chuyện lại được đặt ở yêu cầu biến những khoản đầu tư hôm nay thành năng lực thực chất của học sinh. Với A Lưới, điều ấy càng có ý nghĩa khi trường nội trú không chỉ là nơi dạy học mà còn là môi trường để học sinh ăn, ở, rèn luyện và trưởng thành. Nếu được tổ chức tốt, những năm tháng ở trường sẽ giúp các em có nền tảng để tiếp tục học nghề hoặc bước vào những lĩnh vực mới mà địa phương đang cần.
Ông Nguyễn Tân, Giám đốc Sở GD&ĐT thành phố Huế nhấn mạnh, địa phương cần đội ngũ giáo viên, nhân viên y tế, cán bộ kỹ thuật và lao động có tay nghề để phục vụ đời sống dân cư; đồng thời cần nhân lực mới cho kinh tế cửa khẩu, logistics, thương mại biên giới và du lịch cộng đồng. Khi người trẻ có cơ hội học tập, học nghề, có việc làm và thu nhập ngay tại địa phương thì đào tạo nhân lực cũng trở thành một cách để tạo sức sống lâu dài cho vùng biên.
Các địa phương có thể khác nhau về nhu cầu, nhưng cùng gặp ở một điểm: Trường học phải đi trước một bước so với thị trường lao động. Không thể chờ đến khi học sinh tốt nghiệp mới bắt đầu hỏi các em có thể làm gì. Những năng lực đầu tiên phải được hình thành ngay từ phổ thông, từ ngoại ngữ, công nghệ, kỹ năng nghề đến khả năng giao tiếp, hợp tác và thích ứng.
Vì thế, giá trị của những ngôi trường nội trú không chỉ nằm ở việc đưa học sinh đến trường hay giữ các em ở lại trường. Xa hơn, đó là nơi chuẩn bị một con người cho tương lai của vùng biên.
(Còn nữa)