Hoa ban đỏ

Trên vùng cao có nguồn nước ngầm chảy ra thành một cái ao to. Tiếng Thái Noong Phạ là ao trời. Quanh năm nước xanh như mắt cáo.
Minh họa: MINH ANH
Minh họa: MINH ANH

Sau giải phóng, cạnh Noong Phạ dựng lên một lớp học. Đây là lớp học đầu tiên trong vùng. Cô giáo Liên quê Nam Định, vượt nửa nghìn cây số, đến vùng cao biên giới Việt - Lào đứng lớp. Đến huyện Mộc Sơn đã có một thanh niên người H’Mông da trắng mũi thẳng mắt xanh, tên là Vàng Nếnh dẫn cô đi.

Lớp học dựng tạm bằng tre và lợp gianh, còn tươi mầu tre xanh và hăng mùi cỏ. Dăm bộ bàn ghế học sinh, bàn ghế giáo viên, bảng đen cũng ghép bằng mấy bìa gỗ nhỏ. Cạnh đó chừng vài chục bước là nhà giáo viên, nhỏ như lán nương. Bên trong kê cái giường ghép bằng tre, ngồi lên nghe cót két rung đưa như võng.

Hôm khai giảng đầu tiên, Liên nắn nót ghi đậm lên bảng: Sĩ số: 9 học sinh. Ngày… tháng… năm 1959. Những dòng này ghi lại năm tháng đầu tiên khó quên đời dạy học. Nhìn những gương mặt trẻ thơ, Liên thấy lòng vừa thư thái và xúc động. Khi mặt trời đã ngoi lên ngọn cây ban hoa trắng, ánh sáng lóng lánh phản chiếu mặt hồ và gió thu mát rượi thổi về. Thì cùng lúc tiếng đồng thanh của học trò đọc bài vọng vang vách núi.

*

Cứ nhập nhoạng tối khi gà lên chuồng, là Vàng Nếnh đốt một bó đuốc to cắm trước cửa lớp chờ học viên đến học. Từ ngày đến Noong Phạ, buổi sáng Liên lên lớp phổ thông, buổi tối lên lớp xóa mù chữ. Công việc bận rộn như con mọn. Chưa kể phải tranh thủ soạn bài, chấm bài, thăm học sinh. Lại còn tham gia với bản, xã về nhiệm vụ chung. Nhiều hôm mệt quá cô không muốn ăn cơm.

Nhìn qua lớp học một lượt như điểm danh. Hàng đầu có ba, bốn cô gái tuổi dậy thì má ửng như hơ lửa. Ngồi hàng thứ hai có Chống Dế và vài ba thanh niên choai choai. Giữa lớp là các chị lưng địu con, tay cầm phấn hí hoáy vẽ từng con chữ. Cuối lớp, những già bản tay cứng queo, mồm uốn theo tay viết.

Thời gian như ngựa lồng. Ba tháng học xóa mù chữ trôi nhanh, tất cả học viên đều tốt nghiệp.

Nhớ lại những tối mùa đông không trăng, không sao, đội sương đội rét. Những học viên chưa kịp ăn cơm, vừa rời nương rẫy về vớ lấy sách vở đến lớp ngay. Nhiều chị còn bận cho con bú, việc nhà không tên. Bà con mình vất vả vẫn khát chữ không ai bằng. Nhìn họ mắt rưng rưng, cô Liên như muốn khóc.

*

Một đêm đã khuya, Vàng Nếnh đưa một gói nhỏ cho cô giáo nói:

- Đi thi bắn súng ở huyện được loại giỏi. Phần thưởng đây. Vàng Nếnh làm quà cho cô giáo.

Ô, một tấm vải xanh sĩ lâm dùng may áo thì đẹp quá!

Liên đưa lại gói quà nói nhỏ:

- Mừng tinh thần thôi. Còn quà thì cô không nhận đâu.

Thì ra Vàng Nếnh đã đem lòng mê cô giáo từ lâu. Còn Liên cũng thầm yêu Vàng Nếnh từ trước nhưng vẫn tỏ ra đúng mực cô trò. Nhìn đôi mắt Vàng Nếnh long lanh, Liên cảm nhận tấm lòng thật như đếm của Vàng Nếnh. Trong lòng cô dâng tràn một tình cảm chân thành với chàng trai người H’Mông tốt bụng. Những người vùng cao yêu ai, ghét ai đều rất rõ ràng. Họ không biết nói dối được.

*

Liên đến Noong Phạ đã sáu năm. Bao nhiêu biến động đến với cô. Ngày cầm quyết định lên Tây Bắc, nhận nhiệm vụ ba năm miền núi là được về xuôi. Lúc chia tay, mọi người giơ ba ngón tay lên chào. Nhưng cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước buộc cả dân tộc phải lên đường. Cô cũng như hàng triệu người tiếp tục làm nhiệm vụ mới. Liên tiếp tục ở lại dạy học ở Noong Phạ. Sáu năm qua nhanh, Liên bước sang tuổi hai ba.

Vừa biết mùi tình yêu thì Vàng Nếnh nhập ngũ. Anh như người đi trên mây. Người yêu của anh là cô giáo người Kinh. Người H’Mông Noong Phạ lần đầu có người yêu là Kinh thì động rừng, động bản. Vài hôm nữa là lên đường, Vàng Nếnh khoe với bố mẹ:

- Bố mẹ à, con dâu của nhà ta là gái Kinh đấy.

Bố Vàng Nếnh bất ngờ:

- Phạ ơi, yêu được cô giáo Liên thật à?

Mẹ Vàng Nếnh chưa tin:

- Phượng hoàng không xuống ở cùng gà đâu.

Bố Vàng Nếnh nạt luôn:

- Giải phóng rồi người Kinh, người H’Mông bình đẳng. Cô giáo lấy bộ đội là đẹp đôi chứ còn nói phượng hoàng với gà qué gì!

Vàng Nếnh nói như reo:

- Ồ dồ, bố mẹ nhất trí rồi. Liên là vợ chưa cưới của con. Con đi bộ đội, Liên thỉnh thoảng thăm bố mẹ, giúp đỡ gia đình. Con và Liên bàn với nhau như thế.

Bố Vàng Nếnh quyết luôn:

- Tao mổ lợn to liên hoan cho mày đi bộ đội và dân bản biết cô Liên là con dâu tương lai… là nhập ma của nhà họ Vàng.

*

Từ bản Noong Phạ có đường mòn sang biên giới sang Lào. Thỉnh thoảng bộ đội hành quân dừng chân nấu cơm ăn, nghỉ qua đêm tại trường học. Lúc đó Liên cùng học sinh ríu rít nào góp củi, lấy măng, nấu nước hạt sa nhân cho bộ đội uống. Cô giáo và các anh ghi sổ tay cho nhau làm lưu niệm. Trong đoàn quân có một anh phóng viên đề nghị chụp một bức ảnh chung với mọi người. Bức ảnh tuyệt vời: Cô giáo đứng giữa áo trắng, mặt tươi với các em học sinh. Hàng sau là những người lính trẻ măng. Bên cạnh là gốc ban cổ thụ nở hoa trắng xóa. Xa xa là Noong Phạ nắng chiều như gương.

Những lúc đó Liên nhớ Vàng Nếnh đến quặn ruột. Vàng Nếnh đi bộ đội được bốn năm. Sau ba tháng huấn luyện tại Mộc Châu, anh hành quân vào Nam. Thời gian đầu còn nhận được thư, những năm sau thì biệt vô âm tín. Chiến tranh ác liệt kể lá thư cũng không nhận được. Liên viết thư liên tục cho Vàng Nếnh nhưng không thấy hồi âm. Không hiểu vì sao hay là hòm thư đã thay đổi? Liên sốt ruột vô cùng, còn mẹ Vàng Nếnh già đi chục tuổi.

*

Một chiều mùa đông, bản Noong Phạ có khách lạ. Khách là ông Hải ở Nam Định lên. Đến gần cái ao nước trong veo, cạnh gốc cây ban hoa đỏ như máu. Ông Hải dán mắt nhìn vào ngôi miếu bên gốc cây ban. Ông lần trong túi lấy một nắm hương, đốt lên. Đúng lúc đó từ trên nương lúa một ông già mặc áo chàm, luýnh quýnh vừa chạy vừa thở nói:

- Cho tôi thắp hương cùng.

Hai người lầm rầm thành khẩn. Hương khói tỏa ra cùng mùi hoa ban quyện trong sương núi. Hai người vái xong, ông Hải nói: “Mấy chục năm trời tâm mong hồn nhớ, máu chảy ruột mềm!”. Ông già áo chàm ngậm ngùi giây lát, dắt ông Hải đứng dậy, nói:

- Nhà tôi gần đây, mời ông vào uống nước!

Ông Hải cất tiếng:

- Tôi từ xa đến, xin hỏi ông Vàng Nếnh ở đâu?

- Tôi đây, tôi là Vàng Nếnh, bảo vệ Trường tiểu học Noong Phạ đây! Xin hỏi khách từ đâu đến - Ông già áo chàm thưa.

- Quý hóa quá, ông là Vàng Nếnh, hơn sáu mươi năm rồi, nghe tiếng mà nay mới gặp - Ngừng một lúc để thở - Tôi là Hải, anh ruột cô giáo Liên!

- Phạ ơi!

Trời về đêm. Hai ông già bước lên một ngôi nhà sàn cũ. Sau khi rót nước mời khách, Vàng Nếnh vào buồng lục cục một lúc lâu mở hòm lấy ra một tấm ảnh đen trắng: “Mời ông xem”. Ông Hải lấy kính nhìn: Một bức đen trắng chụp tập thể. Cô gái trẻ mặc áo trắng, mặt tươi hồng nổi bật chung quanh là học sinh và những người lính trẻ. Cạnh gốc ban nở hoa trắng muốt, xa xa hồ nước lấp lánh như gương. Mặt sau tấm ảnh ghi: Cô giáo Nguyễn Thị Liên chụp với học sinh và bộ đội. Ngày… tháng… năm 1965. Ông Hải nhìn trân trối bức ảnh, than:

- Liên ơi. Em gái!

Hai ông già ôm nhau khóc, nước mắt chảy vào trong, nghe tiếng khóc như đọng trong gan trong ruột. Mấy chục năm nỗi đau như muối xát, chiến tranh rồi hòa bình, miền xuôi và miền núi. Người mất em gái, người mất vợ chưa cưới. Mỗi người nỗi đau nhân đôi.

Vàng Nếnh thảng thốt nói ra như với chính mình: “Trong buổi sáng định mệnh ấy. Giờ học mới bắt đầu. Tiếng máy bay gào rít trên đầu. Liên dẫn học sinh chạy vào hầm trú ẩn. Cô vừa ngồi sát cửa hầm thì tiếng nổ lộng óc. Mọi vật chao đảo. Một tiếng thét kinh hồn: Cô trúng mảnh bom! Liên vẫn ngồi mặt thản nhiên miệng hé cười nhìn đám học trò đắm đuối. Hai cánh tay giơ rộng như cánh chim ôm chặt đàn con. Lưng đầm đìa máu chảy. Liên lịm đi trong tư thế che chắn cho học trò”.

Khuôn mặt ông Hải co rúm lại, như chính mình bị mảnh bom chém vào lưng, rú lên:

- Hiểu rồi, đừng nói nữa!

Thấy gia cảnh đìu hiu, ông Hải chuyển sang mớm hỏi chủ nhà:

- Vợ con ông thế nào?

Như đụng vào vết thương Vàng Nếnh tái mặt :

- Tôi bị nhiễm chất độc da cam, bác sĩ khuyên tôi không nên lấy vợ.

Hồi lâu Vàng Nếnh tiếp:

- Cô Liên là vợ chưa cưới của tôi. Tôi đã làm khổ cô, không muốn làm khổ thêm người khác.

Ông Hải nói:

- Tôi lên đây trước cảm ơn vùng cao đã nuôi em tôi sống và làm việc, sau muốn đón em Liên về quê. Nhưng đến đây tôi biết dân bản tốt với em tôi quá. Tôi xin ông một lời khuyên?

Vàng Nếnh thưa:

- Cô sống khôn chết thiêng. Tôi muốn để Liên yên nghỉ nơi này!

Ông Hải trầm ngâm:

- Ông nói hợp ý tôi. Cho em tôi ngủ ngon trong lòng Noong Phạ.

Nắng sớm đã lên trên vách núi Noong Phạ, ao trời lấp ánh. Trên nền lớp học xưa cây ban cổ thụ chọc trời, đầy hoa mầu đỏ tươi như máu.