Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (kỳ 2)

Kỳ 2: Âu lo truyền thừa

Ủ rượu cần từ các loại lá cây rừng.
Ủ rượu cần từ các loại lá cây rừng.

Bà Thị Dôn (xã Tân Hưng, TP Đồng Nai) kể vào những năm đầu đất nước thống nhất, gia đình bà vẫn có thói quen tự trồng bông kéo sợi và nhuộm màu tự nhiên để dệt vải. Nhưng tới đầu thập niên 80 thế kỷ trước, cái nghèo khiến những công đoạn dệt áo cầu kỳ trở thành xa xỉ. Những ruộng bông dần biến mất, nghề dệt thổ cẩm chững lại. Khung dệt chỉ thi thoảng được lấy ra làm những sản phẩm lặt vặt. Chính bà Dôn cũng dần xa rời khung cửi.

Bước qua những năm tháng thăng trầm, khi kinh tế khá lên, người S’tiêng giờ phải đối mặt với vấn đề khác trong việc gìn giữ văn hóa truyền thống.

Những tổ nhóm lặng lẽ

Mãi tới khoảng năm 2008, Thị Dôn mới thấy mẹ mang khung cửi ra để dệt một tấm chăn cho cháu. Lúc ấy, bà gọi Thị Dôn vào phụ giúp. Bà bảo con gái, bao năm khung cửi bỏ không, giờ bà muốn văn hóa của người S’tiêng tiếp tục được truyền đời, kể cả khi mẹ mất rồi thì những người con gái S’tiêng vẫn cần biết dệt vải. Lời ấy, Thị Dôn nhớ.

Bà Thị Dôn bắt đầu những sản phẩm dệt đầu tiên là những chiếc túi thổ cẩm nhỏ. Bà mang tới các nhà thờ ngày làm lễ. Chiếc túi có hoa văn hạt gạo và mái tóc người phụ nữ S’tiêng nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người. Bà bắt đầu có các đơn hàng lẻ tẻ. Lúc ấy, Thị Dôn nhận ra, thổ cẩm không hề chết, chỉ cần có sản phẩm, nó có thể bán, có thể sống.

Năm 2010, tổ dệt ấp Lồ Ô (xã Tân Hưng) ra đời, với 35 chị em người S’tiêng, trong đó có hơn 10 người là những chị em cùng độ tuổi với bà Thị Dôn. Những đơn hàng đến thường xuyên hơn. Kể từ ấy, người phụ nữ S’tiêng đó tiếp tục mang sản phẩm thổ cẩm S’tiêng đi khắp chốn. Bà mang khăn tới các hội chợ ở Campuchia, Thái Lan, bà nhận cả đơn hàng sang Đan Mạch. Thứ làm nên thương hiệu của tổ dệt chính là những chiếc khăn màu sắc. “Đa phần người ta thích khăn, còn quần áo truyền thống bán được ít hơn. Mỗi tháng chúng tôi bán được khoảng 40-50 chiếc khăn, mỗi chiếc 200.000-300.000 đồng”, bà Thị Dôn chia sẻ.

Nhận thấy nguy cơ mai một của nghề dệt, Sở Công thương tỉnh Bình Phước cũ đã tạo điều kiện cho bà Dôn đi học lấy chứng chỉ sư phạm nghề để danh chính ngôn thuận giảng dạy. Từ đó, bà trực tiếp đứng lớp dạy 3 khóa học dệt thổ cẩm (một lớp ở huyện Bù Đăng cũ và hai lớp tại làng với quy mô từ 20 đến 25 học viên). Điều bà Dôn vui nhất là mấy lớp mới đã có nhiều học viên trẻ.

Trong cộng đồng S’tiêng, những tổ dệt như vậy không hiếm. Ở xã Tân Hưng hiện cũng có 3 tổ dệt đang hoạt động. Tổ dệt thổ cẩm - rượu cần xã Bom Bo do Điểu Thị Xia dẫn dắt cũng vẫn đều đặn làm và bán sản phẩm. Tổ của Xia hay của bà Dôn có thể coi như một đại diện cho mô hình bảo tồn chủ động, gắn chặt truyền thống với tư duy kinh tế thị trường.

Có điều, những kỹ thuật dệt phức tạp hầu như chỉ những người lớn tuổi còn làm. Điều nhận thấy rõ với người S’tiêng, là những thứ đang mai một không phải không giữ được, không phải không làm được, cũng không phải người ta không tha thiết, mà là theo đà của cuộc sống, mọi thứ cứ dần dần bị xem nhẹ đi. Thí dụ như kỹ thuật thêu hoa văn dích dắc, những họa tiết phức tạp, bà Dôn bảo nếu được dạy thì chỉ cần vài buổi là có thể biết. Tất nhiên để đẹp cũng cần đến thời gian và tài hoa, nhưng đó không phải kỹ thuật hoàn toàn thất truyền. Nghề này cần sự kiên trì. Lớp học của bà Dôn có nhiều bạn trẻ có năng khiếu, nhưng học xong rồi nhiều người lại bỏ đi làm công ty, bà Dôn tiếc lắm. Các tổ dệt vài chục người nhưng hoạt động thường xuyên thì chỉ có các thành viên đã U70-80. Ở tổ dệt ấp Lồ Ô, xã Tân Hưng, bà Thị Tiếc bảo, nếu xét tiền công thì đi mót mủ cao su được nhiều tiền hơn, nhưng bà thích tổ dệt và coi đó như một công việc lúc rảnh rỗi. Cứ tới độ 7 tới 9 giờ tối, là bà trải khung dệt, bắt đầu tỉ mỉ với từng đường chỉ. Hai - ba ngày bà xong một chiếc khăn, trừ tiền nguyên liệu 50 nghìn, bà Tiếc nhận về khoảng 150 nghìn đồng. Con gái bà cũng học dệt, cũng biết các kỹ thuật cơ bản. Nhưng một ngày cô đi làm từ 7 giờ sáng tới 11 giờ tối ở các công trường cao su, về tới nhà đã mệt nhoài, chỉ muốn ngủ. Những hoa văn phức tạp trên váy áo S’tiêng ngày xưa mà bà Tiếc thành thạo, giờ bà cũng không biết dạy ai nữa. Thu nhập từ mấy tấm vải thổ cẩm chưa đủ để kéo những người trẻ trải lại khung dệt.

Điểu Thị Xia cho chúng tôi xem một tấm vải cũ. Đó là một tấm vải đặc trưng của văn hóa S’tiêng với những hoa văn đại diện của dân tộc cô. Để may được nó, cái cần không chỉ là kỹ thuật, mà còn là thời gian, tâm huyết. Điều ấy, để duy trì được vào thời điểm này là rất khó.

52.jpg
Hoa văn thổ cẩm của người S'tiêng.

Vùng nguyên liệu thu hẹp

Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên cùng sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã ảnh hưởng mạnh tới nguyên liệu thường dùng trong đời sống văn hóa truyền thống của người S’tiêng, tộc người vốn gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên núi rừng.

Rừng bé lại, khiến cho các loại vỏ, lá, rễ cây rừng dùng để nấu nước nhuộm sợi khó tìm hơn. Những nghệ nhân dệt cũng không biết đi đâu để tìm những thứ có thể nhuộm màu truyền thống. Vùng trồng bông biến mất, nên bây giờ việc trồng bông, tách hạt, se sợi cũng biến mất theo. Người ta chỉ có thể đặt mua hàng làm sẵn. Điểu Thị Xia bảo giờ quy trình xử lý bông và nhuộm màu cốt lõi ngày xưa nay hầu như không còn ai làm.

Với nghề đan gùi, vùng nguyên liệu còn bó hẹp hơn. Nguồn cung cây lồ ô và dây mây, vốn là các loại cây mọc hoang dại trong những cánh rừng nhiệt đới ẩm ướt, cũng bị suy giảm. Mặc dù thời gian gần đây đã có một số gia đình S'tiêng tự trồng thêm cây mây và lồ ô quanh nhà để chủ động nguyên liệu, nhưng quy mô và số lượng vẫn còn rất hạn chế. Ông Điểu Lúi, xã Tân Hưng, nói nhà ông vẫn còn trồng cây mây. Nhưng từng đó chỉ đủ cho một vài cái gùi chơi chơi thôi, “Còn vẫn phải đi mua”. Mà đặt mua, thì tiền nguyên liệu có khi quá cả tiền mua cái giỏ nhựa. Ông Điểu Lon A (xã Bom Bo) kể để đan được gùi, ông phải đặt mua nguyên liệu từ Biên Hòa, giá khoảng 30.000 một cây dây mây. Ở khu vực quanh nhà Điểu Lon A chỉ có ba người còn đan gùi. “Bọn trẻ sợ đứt tay chân không quen làm. Bây giờ còn các cháu, tôi bảo bố nó bày cho đan gùi, nhưng chính bố nó còn chả biết đan. Chỉ còn ông nội là tôi làm thôi”, ông buồn bã. “Giờ không ai làm cái gùi này nữa. Chắc tới lúc mình chết nghề bỏ luôn”.

Hoặc như kỹ thuật giã gạo chày tay, một tập tục đã làm nên huyền thoại cả trong văn hóa truyền thống lẫn lịch sử, cũng đang dần không còn ngay trên sóc Bom Bo nói riêng và trong cộng đồng S’tiêng nói chung. Xưa, một đêm người S’tiêng Bom Bo giã 5 tấn gạo nuôi quân, còn giờ, để nghe tiếng chày đôi chày ba chắc chỉ còn ở lễ hội và các buổi biểu diễn. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước cũ (giờ là TP Đồng Nai), trong cộng đồng người S’tiêng, chỉ duy nhất đồng bào ở Bù Đăng (cũ) còn giữ được tập tục này trong đời sống nhưng quy mô nhỏ và không thường xuyên. Âu cũng là hệ quả của sự phát triển kinh tế, khi nương lúa phải nhường cho những cây công nghiệp mang lại giá trị kinh tế lớn hơn. Lúa nương không còn thì đâu còn cần giã gạo chày tay! Cả gỗ rừng và các nguyên liệu dùng để làm ra bộ dụng cụ giã gạo (bao gồm cối gỗ, chày gỗ, gùi, xá) cũng khó kiếm hơn. Ông Điểu Nôi bảo, ông cảm thấy gạo nương giã nứt ăn ngon hơn gạo xát máy. Nhưng bây giờ chính nhà ông cũng thi thoảng mới giã.

Đến ngay như việc nấu rượu, bà Thị Chanh (ấp 5, xã Tân Hưng) kể, tìm mấy loại cây rừng để lên men rượu cần cũ cũng phải 1-2 ngày. Xưa chỉ có đàn ông lên rừng tìm cây về cho đàn bà ủ rượu. Giờ huy động cả nhà đi tìm cũng khó tìm ra.

Điểu Thị Xia thì nói không lo đâu, những cây đó có thể trồng, có thể dựng lại được vùng nguyên liệu. Trong vườn nhà Xia vẫn có một vài cây bông, Xia giữ để thi thoảng giới thiệu cho những người mặn mà với truyền thống văn hóa S'tiêng. “Nếu có đầu ra, thì gây dựng lại vùng trồng bông không khó”, nàng Điểu Nhíp hiện đại khẳng định chắc nịch. Cả những loài cây để nấu rượu, cây mây để đan gùi, Xia đều thử trồng rồi, đều sống dễ. Nhưng mà làm sao để mở rộng nó, làm sao để nhiều người biết đến sản phẩm của người S’tiêng hơn thì chính Xia cũng đang băn khoăn.

(Còn nữa)

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (kỳ 1)