Ðồng bằng quần quật...

Thì đúng là quần quật. Quần quật đi, quần quật làm việc, chụp ảnh, gặp gỡ, giao lưu và... nhậu. Ðến khi về, hành trang quà tặng vẫn là... hai thùng rượu Bến Tre. Và, đến giờ thì phân biệt được rượu Long An khác rượu Bến Tre thế nào, rượu Bến Tre so với rượu Mỹ Tho ra sao. Chưa kể tỉnh nào cũng có đặc sản, thí dụ nhà văn Thu Trang bảo: Các anh đến Mỹ Tho mà không ăn hủ tiếu Mỹ Tho lại đi ăn bánh mỳ ốp la trong khi nhà văn Sương Nguyệt Minh bảo hôm qua ăn hủ tiếu Bến Tre rồi...

Long An té ra lại chiếm đến ba phần tư diện tích của Ðồng Tháp Mười chứ không phải là Ðồng Tháp hay là tỉnh miền tây nào khác. Ra khỏi Sài Gòn chưa đến năm chục cây số là một thế giới của nước mênh mang hiện ra hết sức lạ lẫm và kỳ thú. Chúng tôi quyết định dừng chuyến đi của mình trước hết ở đây.

Ngày xưa tất nhiên là di chuyển hoàn toàn bằng ghe xuồng rồi, còn bây giờ, chạy xe hơi đến nơi nào thích đi thuyền thì xuống thuê ghe đi. Nhưng cũng không dễ dàng mà thuê ghe đi cho thỏa cái chí tang bồng mơ mộng, đơn giản vì... nước còn rất ít. Mênh mông là... ruộng khô hoặc chỉ lắp xắp nước, chỉ có thể xắn quần lội chứ không đi ghe được. Mà như thế thì dân... đói. Ai đó nghĩ cách chống lũ cho Ðồng Tháp mười là không hiểu gì về tập tính sống của dân ở đây. Sống chung với lũ là phương cách đúng đắn nhất.

Cứ hình dung đi, nước, bao la nước, bạt ngàn nước. Một con xuồng nhỏ, trên ấy là ta đang trôi. Cứ bát ngát thế, sắp sửa thấy nhàm chán thì một cái cồn hiện ra. Có nhiều loại cồn, loại to như ở Bến Tre, cồn mọc giữa sông, chứa cả huyện, đường nhựa ngang dọc, phố xá ngất nghểu, và loại cồn như cái nốt ruồi giữa khuôn mặt cô gái đồng bằng, nhỏ tí hin, trên ấy vài ngôi nhà lá, mươi người dân, một hai cái quán, và điều kỳ thú chuẩn bị toát ra từ cái quán ấy. Ra sau nhà, bao giờ cũng có những lu những khạp, hoặc là những cái dụng cụ bằng tre, bằng lưới dìm lờ đờ dưới nước, ngay ở bậc thềm lên xuống, trong ấy là rắn, rùa, ba ba, cá đồng và... chuột. Trời ơi, thế giới kỳ thú ở đấy chứ đâu. Chỉ một nhoáng, bà chủ đã làm thịt xong một con nào đó ta chỉ, giờ chỉ còn chế biến và ngồi vào mâm. Món đơn giản nhất là nướng vàng bằng rơm xong chấm muối ớt, cầu kỳ hơn thì lẩu, luộc, xào... cũng rất đơn giản vì đa phần các loại lá gia vị có ngay ở bên cạnh. Nó có thể là mấy ngọn xoài đang rưng rưng mướt, là nắm lá kèo nèo trông y như những cánh bèo tây, là bông điên điển mà hồi nhỏ ngoài bắc tôi đã biết nó đích thị là  điền thanh, là bông súng mà ở các nơi khác chỉ để ngắm, là rau ngổ, rau muống, rau sam, rau má... đang lóp ngóp ở bờ ruộng, thích đứng lên ngắm trời thì vít một ngọn xoan, làm một nắm lá... tất cả làm nên một đặc trưng miền tây bằng cách nhúng chúng vào chảo thức ăn nếu là xào, và vào nồi nếu là lẩu, mà chính người miền Tây Nam Bộ lại hay gọi mình là người đồng bằng.

Ðã vài lần xuống miền tây mà lần nào cũng thích, ấy là bởi cái tính thích những gì dân dã, thích những cái lạ, kể cả cũ mà lạ. Những chuyến đi luôn luôn mở ra những chân trời mới lạ, những bất ngờ không hẹn trước và cả những cuộc gặp gỡ thú vị.

Ðặc sản Bến Tre là nghêu và các loại... rượu Phú Lễ, từ ngâm chuối hột tới ngâm ổi xẻ. Nhà thơ Ðinh Thị Thu Vân ở Long An (nơi có đặc sản rượu Gò Ðen) có hẳn một nhà chứa rượu chị ngâm lấy, từ rượu nhàu, rượu ổi, rượu xoài, rượu ô môi, đến rượu củ sen, rượu trứng cá, rượu rễ tầm vông... hàng trăm thẩu đứng nghiêm trang chào... khách. Còn nghêu thì thi thoảng đọc báo thấy đưa tin dân đi cướp nghêu ở bãi nghêu. Thì ra cái bãi nghêu ấy là bãi tự nhiên, chả ai nuôi, nhưng lại có chủ, nó bạt ngàn khi đến mùa, lấy cào cào như cào muối. Chúng tôi ăn một bữa nghêu sống đứ đừ với mù tạt mà lạ, sáng hôm sau không thấy ai ôm bụng. Nó chứng tỏ đất ở đây lành như người. Các bạn văn rất hiếu khách, tối ngồi với nhau rồi, sáng sớm lại bắt ra quán cà-phê gẫu tiếp. Toàn bộ Bến Tre là mấy cái cù lao khổng lồ, ngày xưa chỉ có một con đường độc đạo để vào Bến Tre là qua bến phà Rạch Miễu, một cái bến phà rất lớn với nhiều con phà lớn, suốt ngày xình xịch băng qua băng về sông Tiền chở bao nhiêu người, ô-tô, vật sản của một tỉnh thông thương với cả nước. Giờ cầu Rạch Miễu đã xong, cây cầu mà dân Bến Tre gọi là cầu thế kỷ, từ Mỹ Tho chạy ào một cái là sang Bến Tre. Hai tỉnh này cách nhau có một chiều ngang sông Tiền. Và nghe nói còn mấy cây cầu nữa cũng đã hoàn thành, mở Bến Tre ra bốn hướng, thí dụ ngày xưa muốn về Trà Vinh phải qua Mỹ Tho rồi lộn lại, bây giờ, cũng chạy vèo qua cầu Cổ Chiên là tới.

Người Bến Tre tự hào vì có cụ Ðồ Chiểu. Họ còn tự hào về phong trào đồng khởi diễn ra đầu tiên ở xứ này vào năm 1960, cái thời mà chế độ Ngô Ðình Diệm ban bố luật 10/59 và sáng chế ra cái máy chém người rất khủng khiếp, thế mà nhân dân vẫn không sợ, vẫn đốt đuốc lá dừa với mõ tre mà đồng khởi. Và thắng lợi. Và từ đây xuất hiện đội quân tóc dài. Bây giờ ngay ngõ đầu vào thành phố Bến Tre có cụm tượng đài đồng khởi lấy lá dừa làm cảm hứng chủ đạo mà trông khá ấn tượng, ai vào cũng thấy, và nhiều người nơi khác đến thích chụp ảnh ở đấy. Rồi Bến Tre vừa kỷ niệm sáu mươi năm Tiểu đoàn ba lẻ bảy, tiểu đoàn anh hùng có bài hát rất hay mà lời của một nhà thơ gốc Nam Ðịnh, Nguyễn Bính. Mà tiểu đoàn này không chỉ có Nguyễn Bính, còn có những tên tuổi tài danh khác như nhà điêu khắc Nguyễn Hải, nhà văn Trần Kim Trắc, đạo diễn Nguyễn Kế Nghiệp, dịch giả Phạm Hồng Sơn... ba người của tiểu đoàn là Anh hùng Lực lượng vũ trang, mười người được phong tướng... Có một cái hồ cũng là niềm tự hào của người Bến Tre, chỉ nguyên nội tại sao nó tên là hồ Chung Thủy mà tôi được nghe các bạn văn Bến Tre căn dặn rất kỹ. Thế tức là họ rất yêu vùng đất này của họ. Tự hào và yêu là những phẩm chất rất quý của các con dân ở một vùng đất, nó chính là động lực, là khát vọng để họ dâng hiến và dấn thân.

Nói gì thì nói, Nam Bộ là xứ rất giỏi làm du lịch. Về đây mới hiểu rõ Rạch Gầm - Xoài Mút là con rạch có nhiều hổ, nó gầm suốt đêm ngày, còn Xoài Mút là vùng ấy rất nhiều xoài, người ta không ăn mà chỉ mút rồi bỏ, đơn giản thế thôi chứ chả nghĩa bóng nghĩa nôm gì. Giống như có con sông tên là Bảo Ðịnh chảy qua thành phố Mỹ Tho xưa, thế nên ông Nguyễn Thanh Danh mới lấy bút danh cho mình là Bảo Ðịnh Giang, và cái tên ấy được rất nhiều người biết, còn cái tên cúng cơm thì như tôi, vừa phải dở cuốn từ điển 'Nhà văn Việt Nam hiện đại' mới biết.

Một đêm sông Tiền hiếm hoi, chúng tôi uống bia và đàm đạo chuyện văn chương, cuộc đời trong khuya khoắt. Bây giờ, cũng đêm nhưng là đêm phố núi Plây Cu, tôi đang nhẩn nha mở ký ức của mình ra và viết...

Có thể bạn quan tâm