Độ trễ giá và áp lực chi phí phía trước

Tăng trưởng kinh tế năm 2025 bật lên ở mức 8,02%. Mặt bằng giá tiêu dùng vẫn được giữ trong kiểm soát. Nhưng phía sau sự ổn định ấy, chi phí sản xuất đã đi trước một nhịp.

Dư địa lợi nhuận thu hẹp do chi phí, các doanh nghiệp tối ưu hóa quản trị để giữ năng lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH
Dư địa lợi nhuận thu hẹp do chi phí, các doanh nghiệp tối ưu hóa quản trị để giữ năng lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Bất chấp những bất định từ kinh tế thế giới và biến động thuế quan, Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. CPI cả năm tăng 3,31% so với năm 2024, vẫn dưới ngưỡng mục tiêu Quốc hội đề ra. Lạm phát được kiểm soát chặt.

Điều gì giữ chân giá?

Theo bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng ban Dịch vụ và Giá (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), kết quả này là hệ quả của công tác điều hành quyết liệt từ Chính phủ, với sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. Đối với các mặt hàng do Nhà nước quản lý như y tế, giáo dục, việc điều chỉnh được thực hiện theo lộ trình phù hợp, qua đó hạn chế thấp nhất nguy cơ tạo ra những cú sốc về giá.

Trong năm 2025, mục tiêu điều hành giá không đặt nặng việc kéo CPI xuống thấp bằng mọi giá, mà tập trung vào việc làm “phẳng” các đợt sóng chi phí. Thay vì điều chỉnh dồn dập, áp lực tăng giá được giãn ra theo thời gian, phân bổ đều qua nhiều giai đoạn nhằm giảm tác động tức thời lên mặt bằng giá chung.

Làm rõ thêm các chỉ số này, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Thống kê cho biết, lạm phát cơ bản bình quân năm 2025 tăng 3,21% so với năm trước, thấp hơn mức tăng 3,31% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu là do các yếu tố làm tăng CPI như giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, dịch vụ y tế và giáo dục đều thuộc nhóm hàng được loại trừ khi tính lạm phát cơ bản.

Điều đáng nói, trong khi CPI tăng chậm, giá đầu vào cho sản xuất lại lên nhanh hơn. Vật liệu xây dựng, kim loại, nhiên liệu… tạo ra khoảng chênh đáng kể so với giá bán lẻ. Khoảng chênh này chính là phần chi phí đang bị “nén” lại ở doanh nghiệp.

Theo một chủ doanh nghiệp thi công xây dựng, trong năm qua, giá cát, đá, thép, xi-măng biến động mạnh, thậm chí có thời điểm tăng theo ngày, tùy địa bàn, đẩy chi phí xây dựng tăng khoảng 7-10%. Với các dự án đã ký kết, doanh nghiệp buộc phải gánh phần chi phí tăng thêm này.

Đây không phải là hiện tượng cá biệt. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều doanh nghiệp gần như không còn dư địa để chuyển chi phí vào giá bán, bởi thị trường trong nước đang trở thành điểm tựa chính khi xuất khẩu phục hồi chưa đồng đều.

Việc điều chỉnh giá vì thế thường chỉ là lựa chọn sau cùng, buộc doanh nghiệp chấp nhận biên lợi nhuận mỏng để giữ khách hàng. Ở các ngành dư cung hoặc phụ thuộc lớn vào cầu nội địa, khả năng chuyển giá càng bị thu hẹp. Doanh nghiệp duy trì hoạt động bằng cách hấp thụ chi phí, co hẹp lợi nhuận và ưu tiên giữ dòng tiền.

Ở một số ngành, áp lực chi phí còn dẫn tới sự điều chỉnh âm thầm trong cơ cấu sản phẩm, khi doanh nghiệp ưu tiên các dòng dễ tiêu thụ, vòng quay vốn nhanh, thay vì những phân khúc đòi hỏi chi phí cao hoặc thời gian thu hồi vốn dài. Giá bán lẻ vì thế giữ ổn định, nhưng lựa chọn trên thị trường trở nên hạn chế hơn, làm giảm dư địa đổi mới và nâng cấp.

Với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, trạng thái này thể hiện rõ nét hơn. Việc giữ giá đồng nghĩa với thu hẹp khả năng tích lũy, khiến doanh nghiệp vận hành trong thế phòng thủ và nhạy cảm hơn trước mọi biến động đầu vào. Giá không tăng, nhưng độ mong manh của hệ thống sản xuất lại gia tăng.

Từ góc độ này có thể thấy, động thái giữ mặt bằng giá ổn định của doanh nghiệp mang tính phản xạ sinh tồn hơn là chiến lược dài hạn, và khó có thể kéo dài khi áp lực chi phí tiếp tục tích tụ, tạo độ trễ đáng kể trong bức tranh giá cả của nền kinh tế. Hay nói cách khác, đây là lớp “nén” ít hiện diện trong các chỉ số giá, song tác động trực tiếp tới sức bền của tăng trưởng.

Việc buộc phải giữ giá trong bối cảnh chi phí leo thang khiến hoạt động của doanh nghiệp trở nên thận trọng hơn. Thay vì mở rộng sản xuất, ưu tiên hàng đầu của nhiều doanh nghiệp là duy trì hoạt động, kéo theo xu hướng trì hoãn đầu tư, giãn tiến độ mua sắm và thu hẹp kế hoạch tuyển dụng.

Khi lớp “nén giá” hết dư địa

Độ trễ giữa chi phí và giá không phải hiện tượng bất thường, song trong bối cảnh tăng trưởng cao kéo dài, độ trễ này đang trở thành biến số khó xử lý. Chi phí sản xuất đã tăng trước, trong khi giá bán chưa phản ánh kịp do các rào cản như hợp đồng dài hạn, sức ép cạnh tranh và giới hạn chịu đựng của thị trường. Khi những rào cản này suy yếu, điều chỉnh giá có thể không còn diễn ra từ từ mà xuất hiện theo các đợt dồn nén.

Ở cấp độ doanh nghiệp, nhiều chi phí đã vượt ngưỡng hấp thụ. Một khi các hợp đồng cũ hết hạn, hoặc dòng tiền chịu áp lực, quyết định chuyển chi phí sang giá bán sẽ trở nên khó tránh.

Ở cấp độ điều hành, độ trễ giá đặt ra bài toán khác. Nhà nước cần thời gian để phân biệt đâu là biến động chi phí mang tính tạm thời, đâu là xu hướng kéo dài. Nếu điều chỉnh giá quá sớm, rủi ro tạo cú sốc lạm phát là rõ ràng. Nhưng nếu giữ giá quá lâu, áp lực sẽ dồn về một điểm khiến điều chỉnh sau đó trở nên khó kiểm soát hơn. Cân bằng giữa hai lựa chọn này là thách thức lớn trong giai đoạn tăng trưởng cao.

Từ cuối năm 2025, cải cách tiền lương được đẩy nhanh và sang năm 2026, lương tối thiểu vùng dự kiến tăng bình quân khoảng 7,2%. Thực tế cho thấy, mỗi lần điều chỉnh lương thường kéo theo dịch chuyển mặt bằng giá, khiến khả năng “nén giá" của doanh nghiệp bị thu hẹp thêm. Cùng lúc, tăng trưởng cao mở ra dư địa để cầu tiêu dùng phục hồi, làm áp lực chuyển giá đến sớm hơn.

Khi lớp “nén giá” dần thu hẹp, áp lực chi phí không phân bổ đồng đều mà tập trung trước hết vào một số nhóm ngành nhất định. Các ngành thâm dụng vật liệu như xây dựng và sản xuất chịu tác động rõ rệt nhất, khi biến động giá đầu vào nhanh chóng bào mòn biên lợi nhuận. Tiếp đó, lĩnh vực logistics và vận tải cũng sớm đối mặt áp lực do chi phí vận hành gia tăng, trong khi giá dịch vụ khó điều chỉnh tương xứng.

Ông Hoàng Đình Kiên, Tổng Giám đốc Công ty Tiếp vận Hòa Phát (Hòa Phát Logistics) cho biết, nhiều loại chi phí của doanh nghiệp logistics tăng mạnh, nhưng không thể chuyển sang giá dịch vụ. Doanh nghiệp buộc phải tối ưu hóa quản trị để giữ năng lực cạnh tranh trong khi dư địa lợi nhuận ngày càng thu hẹp.

Tương tự, các ngành dịch vụ có chi phí cố định lớn khi chi phí thuê mặt bằng, nhân sự và vận hành tăng nhưng giá dịch vụ lại bị kìm bởi sức mua và cạnh tranh, khả năng chịu đựng của doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bị lung lay. Đây là khu vực dễ tổn thương khi độ trễ giá kéo dài.

Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của kinh tế quốc gia. Việc giảm chi phí trung gian và cải thiện môi trường kinh doanh trở nên then chốt để nâng sức chịu đựng của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặt bằng giá năm 2025 chưa tăng mạnh không đồng nghĩa áp lực đã được giải tỏa, mà phần lớn vẫn tích tụ trong chi phí và hành vi doanh nghiệp, chỉ chờ thời điểm thích hợp để lan sang giá bán.

Giữ giá ổn định trong thời gian tới vì thế không chỉ là bài toán từng doanh nghiệp quyết định riêng lẻ, mà là phép thử đối với năng lực điều hành, khi độ trễ hoàn toàn có thể nhanh chóng chuyển thành cú sốc nếu chậm một nhịp.

Có thể bạn quan tâm