<p>PHÓNG SỰ - KÝ SỰ</p>

“Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời”!

Trong nếp nhà, trong cư xử sinh hoạt của người làng Vọng Nguyệt (Tam Giang, Yên Phong, Bắc Ninh) phảng phất nét đẹp cung đình xưa. Tương truyền, nghìn năm trước, nhiều cung nữ được vua hạ chiếu về đây an phận đời thôn nữ, chăm canh cửi lấy chồng quê. Và, nay về Vọng Nguyệt, với không gian sống... lại nhớ câu thơ trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều: “Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời”.
“Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời”!

CHUYỆN XƯA, CHUYỆN NAY...

Thẳm sâu ký ức làng vẫn còn nhiều người nhớ câu chuyện về những cung nữ xưa, đáng ra họ đã trở thành cung phi, tì thiếp. Vở kịch đời người chờ mong kết cục có hậu bỗng rẽ theo hướng khác, một khúc quanh đến không ngờ.

Thời ấy, những nhi nữ từ nhiều vùng quê khác nhau được tuyển về cung, được học hành chữ nghĩa, am tường lễ nghi. Tì nữ trong cung thì nhiều, cho nên ngày mong, đêm khắc khoải, trăng khuyết trăng lại tròn, họ vẫn là cung nữ. Giấc mộng năm canh bên song mãi đợi. Chờ trăng trăng khuyết, ngóng trời trời hao. Buồn tình, thương kiếp nên tháng ngày tiếng đàn lời hát u ám nỉ non. Thấu hiểu tâm can họ, công chúa Lý Nguyệt Sinh tìm cách xin vua cha giải thoát cho họ. Họ được đưa về làng Thứ Nhị (còn gọi là làng Ngột Nhì) nằm bên bờ sông Như Nguyệt, nơi có nương dâu xanh bát ngát kéo dài từ Hàn Cầu đến Hàn Bún. Các cung nữ thành thôn nữ sống nghề tầm tang, lấy chồng trai quê. Thôi thì, “cũng cam một tiếng thuyền quyên vời đời”!

Đời người như cây cỏ, dòng sông. Nương theo mùa mà xanh, trông bóng mây để vơi đầy dòng chảy. Họ sống, ứng xử với nhau theo lối cung đình. Dấu ấn ấy còn đọng lại khá nhiều. Ngay cả vị trí các ngôi nhà ở đây cũng có khuôn phép, trật tự. Hướng nhà quay về phía đông cũng là hướng của đình làng. Ngày mặt trời chiếu, đêm trăng soi. Làng có tám giáp (Trong, Thượng, Nhân, Tiền, Cao, Nghĩa, Lý, Lễ), bốn phường (Bến, Trai, Môn, Si), mỗi phường có một ngã ba đường và một điếm. Làng có nghè, đình, chùa. Nghè là nơi thờ công chúa Lý Nguyệt Sinh. Xưa, làng quy định đàn ông vào nghè, đàn bà vào chùa. Đường làng lát gạch nghiêng, người dân vẫn chân đất vào đình hội họp. Trai, gái, dâu đến tuổi 49, phải đóng tiền, góp gạo, tự tay làm cỗ thết đãi làng. Mâm cỗ của làng quy định bốn bát, sáu đĩa, và không thể thiếu món gan bụng, món được coi là lòng thành của mọi người dâng làng. Đĩa sành bày sáu miếng gan đặt lên sáu miếng mỡ bụng. Gan có vị nhần nhận đắng ăn lẫn với thịt mỡ, càng nhai càng bùi ngậy như xôi lạc. “Cỗ thiếu món này xem như đãi bôi. Các cụ quở chết”. Trưởng thôn Ngô Văn Quây cho biết.

“Con gái Vọng Nguyệt có Hồng Loan cư mệnh, tiếng tơ tình nức nở về đêm”. Cụ già bán mấy quả ổi, quả chuối bày trên cái mẹt ở phố Chờ buông lời vậy. Từ phố Chờ về làng Vọng Nguyệt có ba cây số chỉ là đoạn đường ngắn ngủi nhưng lại có một không gian, lối sống, nếp nghĩ khác so với các làng chung quanh. Cụ già cười trong nắng, phảng phất nét hồn nhiên đơn hậu.

Đêm. Vọng Nguyệt vào độ trăng. Trăng mọc lên từ sông Như Nguyệt. Các thôn nữ í ới gọi nhau. Bên nương dâu xanh ngắt, những chiếc nón xoay chuyển như đàn bướm trắng rập rờn.

“Qua đêm lá dâu ủ nhựa. Hái dâu phải hái từ lúc mặt trời chưa lên, sương còn đọng ướt. Tằm ăn dâu này mới cho kén dài, sợi sáng, dáng mượt.” Cụ Ngô Thị Kim nói vội vàng, rồi vơ cái nón ra đình ăn cỗ khao tuổi 49. Trước đây, tuổi dưới 50 là phải ra sân đình mà ngồi. Gần 900 cụ già của làng tề tựu. Khách lạ, gặp bữa cơm còn được các cụ ngồi kể chuyện tằm tang xưa. Nói đến tằm dâu, nhiều nơi cũng có, nhưng riêng làng này lại gắn với câu chuyện liên quan đến các cung nữ xưa. “Chuyện rằng, ngày mới về đây thường hay nhớ, hay khóc. Cuộc đời họ như con tằm được đưa lên nia, lên nống nuôi trong ánh sáng mờ, chăm bẵm bằng lá dâu mơn mởn xanh. Qua băm bảy hăm mốt ngày úp cho tằm chết để lấy nhộng. Nhộng luộc chín kéo kén thế là hết một đời tằm”. Cụ Nguyễn Thị Thoa thở dài, như một trải nghiệm, một nỗi buồn tủi bao đời thấm sâu: “Công việc như cái guồng cuốn người đi. Khi kén kéo ra, lòng cung nữ cũng vơi dần, nhẹ vợi”.

VỌNG NGUYỆT: NHẤT THÔN, NHẤT XÃ

Làng Vọng Nguyệt (thuộc xã Tam Giang) nằm bên bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), là nơi hợp lưu của hai dòng Cà Lồ, Nguyệt Đức. Làng nằm trên thế đất cao bằng phẳng. Giữa làng là trục đường cái chính chạy theo hình tròn. Quy hoạch làng từ xưa đến nay vẫn thế, gọn gàng từ đông sang tây, chặt chẽ từng khu trục. Làng có chiều dài gần cây số. Bốn cổng bằng gỗ lim, chung quanh trồng tre bao bọc đặt ở bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Phía nam của làng có núi Tiêu Sơn, phía bắc có sông Nguyệt Đức. Phong tục của làng mỗi năm có một tết chính, chín tết mọn. Vì dân số chiếm hơn hai phần của cả xã nên Vọng Nguyệt có lúc là một xã, cách gọi nhất thôn, nhất xã là như vậy. Làng vàng sắc tơ phơi, thoi đưa đều đặn như tiếng cù quay con trẻ.

Bên hiên nhà luôn gặp cảnh quay tơ, tuyển nhộng. Những chị, những cô tay làm như thoi đưa, miệng vẫn chuyện nhà chuyện tơ. Phong thái quyền quý vẫn lồ lộ ở những người dân nơi đây, từ trong lời ăn, tiếng nói, đến ngay cả cái dáng ngồi ăn quà chợ quê. Chợ làng đơn sơ, sáng lều gánh bánh cuốn, chiều bánh đúc, bánh đa. Các cô khẽ dón miếng bánh đúc vàng nhạt rồi chậm dãi chấm tương nâu sóng sánh.

Nhà văn hóa ngay trong chợ làng tuyền gỗ lim, mười hai cánh cửa đều chằn chặn chạy trên ngạch, thường được các cô gái chọn làm nơi chụp ảnh làm duyên. Không gian xưa, váy áo mớ bảy mớ ba tung tẩy bên cửa gỗ như một góc cung đình thu nhỏ. “Thắt yếm, cài khăn cho ra phết”- cô Mai nói. Ở đây không ai ngại ngần mặc đẹp bằng lụa, múa hát dân ca. “Hay thì hát đám, hát đình. Không hay thì hát một mình mà nghe.” Các cô đùa. Gái Vọng Nguyệt bên tơ, bên dâu nên hay ngân nga hát. Hát mãi thành quen, nên thuộc nhiều lắm lắm. Các cô tập trung trang điểm nhưng miệng vẫn hỏi: “Trưa ăn cơm ở đình có ngon không?” Chúng tôi đáp ngon, các cô không bảo chúng tôi xã giao mà quay ra chê cỗ làng trưa nay. Chuối om thiếu lá xương xông, canh chua cho me thì me, cho chanh thì chanh. Đằng này cho chanh lẫn me nấu xong đậy vung lại nên mùi lắm. Thì ra các cô không ăn cỗ làng nhưng vẫn quan sát người nấu. Phụ nữ vụng đường nấu ăn thì buồn lắm. Một cô trong hội hát bỗng dưng buông lời. “Ấy chết”! Rồi cô hát: “Nhắn cùng là cùng anh hai í i. Rằng thì là có yêu nhau thì là…”.

Rời làng Vọng Nguyệt khi chiều buông nắng nhạt, câu hát vẫn ngân theo. Nỗi nhớ làng cứ lớn dần lên khi quãng đường đưa chúng tôi mỗi lúc một… xa làng.

Có thể bạn quan tâm