Con chữ & niềm tin ở Piêng Coọc

Từ ngày ra trường cho đến nay, suốt 23 năm, thầy giáo Nguyễn Duy Thắng, quê ở huyện miền xuôi Diễn Châu, lên công tác ở huyện vùng cao Tương Dương (Nghệ An). 22 năm gắn bó với bà con người Mông ở bản Lưu Thông, xã Lưu Kiền và năm học này, thầy Thắng lại tiếp tục luân chuyển lên điểm bản lẻ Piêng Coọc xa xôi, tiếp tục “gieo chữ”.

Điểm trường bản lẻ Piêng Coọc, cách điểm trường chính hai giờ đồng hồ đi bộ.
Điểm trường bản lẻ Piêng Coọc, cách điểm trường chính hai giờ đồng hồ đi bộ.

Gửi trọn tuổi xuân nơi vùng bản

Đi bằng thuyền máy hun hút sâu vào trong vùng lòng hồ thủy điện bản Vẽ mất cả ngày đường mới đến bản Piêng Coọc thuộc Mai Sơn, xã tận cùng của huyện vùng cao Tương Dương. Cái tên Piêng Coọc ai mới thoạt nghe lần đầu cứ ngỡ như tên tây. Piêng Coọc là một trong những bản vùng sâu, vùng xa thuộc xã biên giới Mai Sơn của huyện Tương Dương, có 100% dân cư là đồng bào dân tộc Mông sinh sống, với 53 hộ, 352 khẩu, tất cả đều thuộc diện hộ nghèo.

Theo nghĩa tiếng Thái, “Piêng” là một vùng đất bằng, còn “Coọc” có thể giáp một dãy núi, eo núi! Nhưng Piêng Coọc ở đây nằm trên điểm cao khoảng 1.200m so mặt nước biển và bản của người Mông này nằm dưới một thung núi tương đối bằng phẳng. Già bản không ai còn nhớ người Mông đến lập bản Piêng Coọc đã qua bao nhiêu mùa rẫy. Khi ngăn nước sông Nậm Nơn làm thủy điện, nước dâng ngập nhiều vùng bản người Thái ở dưới thấp thì bản Piêng Coọc và một số bản khác của người Mông trên những đỉnh núi chon von này vẫn không bị xóa sổ mà vẫn hiện hữu với thời gian nơi vùng cao heo hút này.

Từ ngày ra trường đến nay, suốt 23 năm thầy giáo Nguyễn Duy Thắng, quê ở huyện miền xuôi Diễn Châu, lên công tác ở huyện vùng cao Tương Dương. 22 năm gắn bó với đồng bào Mông ở bản Lưu Thông, xã Lưu Kiền, năm học này thầy Thắng lại luân chuyển lên xã Mai Sơn “cắm” điểm trường lẻ bản Piêng Coọc tiếp tục “gieo chữ”.

Điểm trường lẻ Piêng Coọc hiện có năm lớp với 66 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5. Trong đó, lớp đông nhất là 15 học sinh và ít nhất là bảy em. Các phòng học được xây dựng bán kiên cố theo chương trình 135, mái lợp tôn, vách gỗ, nhưng vì thời gian quá lâu nên hầu hết đã xuống cấp. Cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn nhưng chưa thấm vào đâu với khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày. Hiện nay, thầy giáo Thắng cùng các giáo viên khác phải sống trong căn phòng lợp mái tôn tạm bợ. “Do chưa có điện lưới, nên phải tìm kế lắp đặt máy thủy điện nhỏ, nhưng hoạt động phập phù, mùa mưa không sử dụng được, nhiều đêm các thầy, cô giáo phải soạn bài lên lớp dưới ánh đèn dầu. Chính vì đời sống của đồng bào nơi đây còn nhiều khó khăn nên việc huy động và giữ được sĩ số học sinh vô cùng vất vả. Thương nhất là nhiều học sinh, do bố mẹ đi rẫy cả ngày, bữa trưa hầu như phải nhịn đói, nên buổi chiều các em lại bỏ học ở nhà luôn. Vì thế, các thầy cô lại phải vào bản tìm học trò, cho các em ăn rồi vận động các em đến lớp”, thầy giáo Nguyễn Duy Thắng chia sẻ.

Tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Huế, năm 2010, cô giáo trẻ Lương Kim Oanh, lập gia đình rồi mới lên nhận công tác tại Trường tiểu học Mai Sơn. Đã bảy năm nay cô Oanh được trường phân công “cắm” điểm trường lẻ Piêng Coọc. Không có khó khăn vất vả nào mà cô chưa nếm trải. Đường từ điểm trường chính vào bản cũng rất đỗi gian nan, vất vả, nắng thì bụi mịt mù, khi trời mưa đường lại dốc và trơn trượt, đi bộ cũng đã khó, chưa nói đến chuyện đi xe máy. Nhiều hôm cô Oanh và các đồng nghiệp đành phải bỏ xe lại điểm trường chính rồi đi bộ mất hơn hai giờ đồng hồ mới vượt được dốc Piêng Coọc để vào bản. Con còn nhỏ, nhưng vì nhà quá xa, cách trường tới 160 km, nên cô đành phải gửi con lại nhờ bố mẹ chăm nom. Dù xa xôi cách trở, mỗi chuyến xuôi ngược bằng thuyền máy phải mất hơn 200 nghìn đồng, nhưng vì nhớ chồng con nên hai tuần một lần cô xin phép nhà trường về thăm. Cô tâm sự, làm chồng, vợ của giáo viên “cắm” bản vùng cao đòi hỏi sự chia sẻ, cảm thông nhiều lắm! Với đàn ông thì phải biết vừa làm chồng vừa làm vợ và ngược lại, phụ nữ lại phải đủ vững vàng để vừa làm vợ vừa thay chồng gánh vác công việc nặng nhọc hằng ngày.

Khu nhà ở của giáo viên cắm bản chỉ là mái tôn tạm bợ bên cạnh lớp học vô cùng chật hẹp. Thực phẩm trên này khan hiếm, may mắn, hôm nào bà con dân bản săn bắn được con dúi, con chuột, cho nắm rau, măng, các thầy, các cô còn có tí chất tươi để cải thiện. Để duy trì sự sống “nuôi chữ” nơi heo hút này, những lần được xuôi về thăm gia đình, khi ngược trở lên trường, ai cũng tranh thủ mang thêm thực phẩm trứng, lạc... để làm thức ăn khô dự trữ cho cả tháng.

Cô giáo Lương Kim Oanh hướng dẫn học sinh người Mông bản Piêng Coọc học bài.

Niềm tin nơi miền biên viễn

Điều kiện vất vả thiếu thốn như thế nhưng vì yêu nghề, yêu trẻ nên cô Oanh cùng với năm thầy, cô giáo “cắm” bản nơi đây vẫn ngày đêm miệt mài “gieo” chữ.

Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Hiệu trưởng Trường tiểu học Mai Sơn Đào Xuân Hải cho biết, trường có 22 lớp với bốn điểm bản lẻ và một điểm trường chính. Cơ sở vật chất trường lớp hầu hết được xây dựng bán kiên cố, lợp tôn vách gỗ, các điểm trường lẻ hầu hết đã xuống cấp trầm trọng. Toàn trường hiện có 285 học sinh đang theo học, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống gia đình rất khó khăn. Địa bàn miền núi hiểm trở, do đó mọi sinh hoạt cũng như dạy học của các thầy, cô giáo ở điểm lẻ cũng cực kỳ khó khăn, thiếu thốn. Để động viên giáo viên yên tâm công tác tại những điểm khó khăn này, ngay từ đầu năm nhà trường đã tham mưu cho từng địa phương, đến gặp ban quản lý ở từng nơi giáo viên “cắm” bản để có sự động viên trực tiếp đến từng giáo viên. Trường cũng đã đầu tư một phần kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất tại các điểm bản lẻ này, chẳng hạn như bóng điện, nguồn ánh sáng, thủy điện nhỏ, một số tư trang phục vụ sinh hoạt... Hằng tuần, hằng tháng tổ chức giao lưu tại các điểm bản lẻ để nhiều giáo viên ở điểm trường chính đến cùng tham gia động viên các thầy, cô giáo.

Vượt qua nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, thiếu thốn ở vùng núi và nỗi nhớ người thân nơi quê nhà, các thầy giáo, cô giáo vùng cao bản Piêng Coọc, xã biên giới Mai Sơn, huyện Tương Dương vẫn cần mẫn từng ngày để dạy con chữ cho những trẻ em nơi miền biên viễn xa xôi. Nhiều năm gắn bó tâm huyết với mảnh đất còn nhiều khốn khó và những lớp học thân thương, khó lòng có thể kể hết được những vất vả, nhọc nhằn mà các thầy, các cô đã phải trải qua. Nhưng cô Oanh, thầy Thắng, cũng như nhiều cô giáo ở nơi vùng cao, vùng sâu, vùng xa này, đều nỗ lực vì một mơ ước, mong cho các em học sinh nơi miền biên viễn được tới trường học con chữ, để có một tương lai sáng sủa, một cuộc sống ngày mai ấm no hơn.