Nói đến Tô Hoài, trong cảm quan của tôi lập tức hình dung ra một tầm vóc trí tuệ mang tính hiền triết, một chất người điềm đạm mà uyên bác, rộng mở mà tinh tường, nhưng lại tuyệt nhiên không hề mang dấu ấn gì sách vở, trái lại, hết sức dân dã, gắn bó chặt chẽ với đời thường.
Phẩm chất đó có được là do ông chịu đi nhiều, quan sát và nhập tâm rất nhiều chiêm nghiệm từ đời sống, ghi nhớ và biết vận dụng rất nhiều tình huống từng trải trong ứng xử, trong quan hệ với mọi người thuộc mọi tầng lớp, thậm chí chịu khó học hỏi và ghi chép chi tiết đến cả cách nói, lối nghĩ, vận dụng tài tình mọi phương ngôn tục ngữ, cho đến khẩu ngữ của từng vùng đất, từng vùng dân tộc ít người.
Cuốn sách cuối cùng của nhà văn Tô Hoài được xuất bản khi ông đã ngoài 92 tuổi.
Càng đi nhiều, hiểu nhiều, ông càng khiêm tốn, tự thấy cái vốn sở học của mình còn rất nhỏ bé, từ đó ông lại càng khát khao muốn mở rộng hiểu biết, mở rộng kinh lịch và cả tầm trí tuệ để có thể khám phá được toàn vẹn hơn mọi khía cạnh phức tạp và sâu xa, mọi bí mật còn ẩn khuất của thế giới loài người. Đấy thật sự là một con người biết tự học từ trường đời để tạo nên văn, và lại dùng văn để diễn giải, để giải mã đến cùng mọi bí ẩn cần khai mở của cuộc đời, của số phận con người.
Tô Hoài là nhà văn say mê và yêu mến cuộc đời, ông tìm được ở đó lý do để mình có thể sống và chia sẻ với mọi người, chính vì thế, ông coi nghề văn là một thú vui thường trực, là một công việc say mê cần mẫn hằng ngày, là một trách nhiệm không bao giờ có thể ngơi nghỉ với đời. Cách thức đúc kết nên trang viết của ông có vẻ thật dễ dàng: Từ quan sát đếnghi chép, rồi từ ghi chép đến suy xét. Và tác động của một trang viết của nhà văn đến với độc giả cũng được ông đúc kết một cách thật giản dị: Văn viết là để đọc, đọcrồi là để ngẫm, ngẫmrồi là để nhớ. Tất cả, tưởng như rất bình thường, nhưng nghĩ lại, nó cũng chính là phần cốt lõi có tác động xã hội của nghiệp văn chương và thể hiện rõ nét tác động qua lại hữu cơ giữa nhà văn và bạn đọc.
Cách đây khoảng gần nửa thế kỷ, nhà văn nổi tiếng Ác-mê-ni là Ga-rê-ghin Xê-vun sang thăm Việt Nam lần đầu và mang trong mình một nỗi háo hức không cưỡng nổi là muốn gặp mặt nhà văn Tô Hoài, như trong nhật ký mà ông công bố sau chuyến đi thú vị này. Ông viết: "Tôi say mê những trang sách thần tiên của Dế mèn phiêu lưu kýđến mức tôi luôn luôn cứ hình dung trong đầu là khi sang Việt Nam sẽ được gặp một ông già phương Đông râu tóc bạc phơ, có dáng dấp của một nhà hiền triết, có giọng nói chậm rãi và truyền cảm, để tóc dài như đạo sĩ hoặc quấn chiếc khăn có những hoa văn kỳ lạ. Nhưng tôi thật bất ngờ khi đứng trước nhà văn Tô Hoài bằng xương bằng thịt, nhỏ thó, lanh lợi, cởi mở, khi kể chuyện thích pha trò, tóc vẫn đen, khuôn mặt rất nhẹ nhõm, đôi mắt thông minh, khi nheo nheo hóm hỉnh còn trẻ trung hơn cả tuổi! Chuyến đi Việt Nam có nhiều điều bất ngờ để khám phá, nhưng đối với tôi, cuộc diện kiến nhà văn Tô Hoài cũng đủ là một trong những bất ngờ thú vị nhất mà Việt Nam đã đem lại cho tôi!"...
Quả thật, chất "hiền triết dân dã" của Tô Hoài không những chỉ có riêng chúng ta nhận thấy mà đến cả một nhà văn nước ngoài cách xa ta nửa vòng trái đất cũng đã nhận thấy ngay, chỉ sau lần đầu gặp gỡ! Và đặc biệt là tố chất hiền triết ấy không cần phải mượn cái vỏ bề ngoài đạo mạo, kênh kiệu nào, nó lại toát ra từ chính vẻ mộc mạc, chân chất của đời thường, từ sự chân thành và cởi mở trong phong cách giao tiếp và ứng xử. Cũng như trong văn chương, thế mạnh của Tô Hoài là biết chia sẻ một cách thông minh, hóm hỉnh mọi chi tiết của thực tế phũ phàng, trần trụi trong đời sống, nhất là đời sống của lớp người nghèo, như của những người thợ dệt vùng Bưởi trước cách mạng, của tầng lớp thị dân ngoại thành Hà Nội ở dưới đáy của mọi nỗi bươn chải làm ăn, mọi cách mưu sinh để tồn tại mà đồng thời vẫn loay hoay đi tìm cho ra ý nghĩa đích thực của đời sống cho mình. Những O chuột, Nhà nghèo,những Xóm Giếng ngày xưa... thấm đượm một nỗi buồn nhân sinh sâu sắc của thời trước cách mạng. Rồi Tô Hoài đi hoạt động Văn hóa cứu quốc, ông mong mỏi và tâm niệm, cùng với cách mạng, những tầng lớp người "hạ lưu" và nhỏ bé ngày xưa sẽ phải thoát nghèo thoát khổ và tìm được ra cách xây dựng một đời sống mới xứng đáng cho mình trong xã hội mới.
Tô Hoài đi kháng chiến, ông có Truyện Tây Bắc, có Mường Giơn giải phóng, Miền Tây, Mười năm, Nhật ký vùng caovà đặc biệt có Vợ chồng A Phủ. Ông trải lòng mình vào với vui buồn của mọi nẻo đường kháng chiến, với bao số phận của vùng đất các dân tộc ít người ở Tây Bắc Tổ quốc và tạo nên những tác phẩm mang hơi thở mới của cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi cả cuộc phấn đấu tự giải phóng số phận mình của các dân tộc ít người để thoát khỏi những nỗi khổ mông muội, tối tăm dưới ách những Thống Lầu, những "phiềng", những "tạo"...
Triết lý sống của ông bây giờ lại gắn chặt với triết lý vật lộn để tự giải phóng, để được sống đúng với ý nghĩa làm người, con người có ý thức về mình và dám tạo lập tự do và hạnh phúc cho mình, cũng đồng thời là cho cả một cộng đồng lớn lao hơn là cả với dân tộc của mình. Triết lý nhân sinh của ông không đúc rút ra từ sách vở nào, mà đúc rút từ chính mồ hôi nước mắt và cả máu của những người nghèo trên cả dải đất dài dặc, đa dân tộc, gian lao và vất vả, phải vừa kháng chiến vừa kiến quốc của đất nước ta. Trong cuộc chiến đấu gian lao giành quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc và quyền làm người đó, ông đã từng tâm sự rằng ông thích chú tâm trước hết vào số phận những người hết sức bình thường, thậm chí là ở tầng lớp xô bồ bụi bậm nhất, nhếch nhác nhất trong xã hội, chịu số phận bị khuất lấp nhất trong xã hội. Và ông đã làm được điều ông tâm niệm đó một cách xuất sắc trong các tác phẩm của mình.
Với công việc sáng tác, Tô Hoài không quan trọng hóa nó như "thiên chức" cần có của một nhà văn, ông chỉ quan niệm rằng viết cũng là một nghềnhư bao nghề khác, trang giấy và ngọn bút như một công cụ hành nghềđể ông có thể thực hiện được mọi ý đồ chia sẻ, tác động đến mọi người chung quanh từ chính những trải nghiệm của mình. Vì vậy, viết đối với ông luôn luôn phải trở thành một công việc đều đặn và có trách nhiệm hằng ngày, không phải ngồi chờ tới lúc "có cảm hứng" mới chịu viết. Ông luôn có thói quen lục lọi trí nhớ, xem lại và khai thác các chi tiết đã ghi chép, các câu nói và cách dùng từ ngữ trong dân gian đặc sắc mà ông đã nghe và bắt mình phải học, ông luyện chữ luyện văn bằng cách đó. Và trên thực tế, cách làm đó đã tạo nhiều hiệu quả thiết thực cho đời văn của ông. Về sức sung mãn trong sáng tác, có lẽ cũng ít có ai vượt được ông với hơn 150 đầu sách được in, bao gồm nhiều thể loại phong phú và hướng tới nhiều đối tượng độc giả.
Những năm cuối đời, không có điều kiện viết được các tác phẩm dài hơi, Tô Hoài quay trở lại viết báo, viết những bài ghi chép, tạp bút, tùy bút..., thể loại mà ông cũng đã rất quen từ hồi còn làm phóng viên báo Cứu quốc thời trẻ. Ông còn thích đùa với một số bạn trẻ đến trao đổi hoặc phỏng vấn mình, rằng ông còn có thể viết được đủ thứ, coi như thượng vàng hạ cám, không cần phải có gì câu nệ! Tất nhiên, đó chỉ là một cách nói vui thôi, còn với tư cách nhà văn, mỗi dòng viết ra đối với ông đều được trân trọng và cẩn thận như nhau, không hề dung nạp cách viết ẩu, coi thường độc giả.
Nhiều anh em bạn văn, kể cả cùng cơ quan, vẫn cứ đinh ninh rằng tác phẩm Ba người khác là tác phẩm được in cuối cùng của nhà văn, và sau đó vì đau ốm kéo dài, ông không viết thêm được gì nữa. Nhưng thật bất ngờ, Nhà xuất bản Trẻ năm 2011 vẫn còn kịp in một cuốn tuyển các bài bút ký mới viết sau này của Tô Hoài nữa, lấy đề là Chùa Giải oanvà đấy mới thật là tác phẩm cuối cùng của Tô Hoài ra đời khi ông đã ngoài 92 tuổi, với chất "hiền triết dân dã" vẫn đậm đà, nhất quán trong ông. Chỉ riêng ưu thế này, tôi nghĩ, cũng đã đủ đưa ông lên hàng những "Người Hiền" bất tử của văn học Việt Nam hiện đại.